Học liệu điện tử

Video - Thí nghiệm thực hành

Thống kê bạn đọc

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    9456fe40364d9167df75ae7b1c785753.jpg Sodotuduytoan9chuong1hinhhoc2.png Maxresdefault_1.jpg

    Liên thông thư viện

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NINH PHONG - NINH BÌNH💕💕

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Những Điều Bạn Nên Biết Về Thế Giới Thực Vật

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Huy Lượng
    Ngày gửi: 17h:49' 01-07-2025
    Dung lượng: 2.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    MỤC LỤC
    LỜI NÓI ĐẦU
    SỰ TIẾN HÓA CỦA THỰC VẬT
    1 Root - Rễ
    2 Stem - Thân
    3 Leaves - Lá
    4 Reproductive parts of plants - Các bộ phận sinh sản của thực vật
    5 Can one kind of tree produce the fruit of another kind of tree? - Một loại cây có thể tạo ra quả
    của một loại cây khác hay không?
    6 How Primitive Men Learnt to Grow Plants? - Con người nguyên thủy đã học cách trồng cây
    như thế nào?
    BACTERIA, LICHENS, ALGAE AND FUNGUS - VI KHUẨN, ĐỊA Y, TẢO VÀ NẤM
    7 Bacteria - Vi khuẩn
    8 Lichens - Địa y
    9 Algae - Tảo
    10 Fungus - Nấm
    BRYOPHYTES - THỰC VẬT NGÀNH RÊU
    11 Moss - Rêu
    12 Ferns - Dương xỉ
    13 Tree Ferns - Cây dương xỉ
    14 Dicksonia Antarctica - Dương xỉ Dicksonia Antarctica
    15 Liverworts - Rêu tản
    16 Hornworts - Rong sừng
    GYMNOSPERMS - THỰC VẬT HẠT TRẦN
    17 Cycads - Thực vật nhóm mè
    18 Gingko - Thực vật nhóm bạch quả
    19 Conifers - Thực vật nhóm tùng bách
    20 Douglas Fir - Linh sam Douglas
    21 Scots pine - Thông Scốt-len
    22 Giant Sequoia - Cự tùng khổng lồ
    ANGIOSPERMS - THỰC VẬT HẠT KÍN
    23 Some of the flowering plants and trees - Một số thực vật và cây thân mộc có hoa
    24 Deciduous trees - Các cây rụng lá
    POISONOUS, INSECTIVORES AND CARNIVORES - CÁC THỰC VẬT ĐỘC, THỰC VẬT ĂN CÔN
    TRÙNG VÀ THỰC VẬT ĂN THỊT

    25 Poisonous plants - Các thực vật độc
    26 Insectivores and carnivores - Các thực vật ăn côn trùng và ăn thịt
    STINKING AND STINGING PLANTS - THỰC VẬT CÓ MÙI HÔI VÀ THỰC VẬT CÓ GAI CHÍCH
    27 Stinking plants - Thực vật có mùi hôi
    28 Stinging plants - Thực vật có gai chích
    CLIMBING PLANTS - THỰC VẬT LEO
    29 Virginia Creeper - Cây leo Virginia
    30 White Bryony - Cây leo Bryony trắng
    31 English Ivy - Cây thường xuân Anh
    32 Bindweed - Cây bìm bìm
    WATER PLANTS - THỰC VẬT THUỶ SINH
    33 Water Hyacinths - Lục bình
    34 Giant Sea Kelp - Tảo bẹ khổng lồ
    35 Water-Lily - Bông súng
    36 Water Lettuce - Rau diếp nước
    USEFUL PLANTS - THỰC VẬT CÓ ÍCH
    37 Cotton - Cây bông vải
    38 Rubber - Cây cao su
    39 Cocoa - Cây ca cao
    40 Tea - Cây trà
    41 Cinchona - Cây canh-ki-na
    42 Aloe Vera - Cây lô hội
    43 Medicinal Plants - Các cây làm thuốc
    44 Bamboo - Cây tre
    45 Banana - Cây chuối
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    LỜI NÓI ĐẦU

    Sách này trình bày dưới dạng song ngữ Anh - Việt những kiến thức căn bản về thế giới thực
    vật nhằm giúp bạn đọc có điều kiện tiếp cận sự tiến hóa đầy kỳ diệu của vô số các loài thực
    vật nảy mầm và tăng trưởng trên trái đất của chúng ta.
    Các chủ điểm của sách thật đa dạng như: sự tiến hóa của thực vật, vi khuẩn, địa y, tảo và
    nấm, thực vật ngành rêu, thực vật hạt trần và hạt kín v.v.
    Cuối mỗi bài, sách có chú thích các cụm từ và mẫu câu nhằm giúp bạn đọc cũng cố vốn từ
    vựng. Sách cũng có nhiều hình ảnh minh họa nhằm làm sáng tỏ và phong phú hóa một số
    nội dung.
    Ngoài ra, để luyện kỹ năng nghe hiểu cho bạn đọc, chúng tôi có kèm đĩa CD gồm các bài đọc
    tiếng Anh, với nội dung được đọc chậm rãi để bạn đọc tiện theo dõi.
    Hy vọng rằng với nội dung phong phú, bố cục mạch lạc, sách sẽ là nguồn tham khảo quý báu
    cho bạn đọc.
    Chúc các bạn thành công.

    EVOLUTION OF PLANTS
    SỰ TIẾN HÓA CỦA THỰC VẬT
    Có hơn 250,000 loài thực vật, bao gồm rêu, dương xỉ, tùng bách, các thực vật có hoa, v.v.
    Thực vật đã có trên trái đất từ rất lâu. Chúng đã xuất hiện lần đầu ở kỷ Ocdovic và
    không giống như những thực vật ngày nay mãi cho đến cuối kỷ Silua. Trong Kỷ Đevon
    gần 360 triệu năm trước đây, nhiều loại thực vật với hình dạng và kích thước khác
    nhau đã xuất hiện, gồm cả những loài cây leo nhỏ li ti cho đến những cây cao.
    (There are more than 250,000 species of plants which include mosses, ferns, conifers,
    flowering plants etc. Plants have been there for a very long time. They first appeared in
    the Ordovician period and didn't resemble modern plants till late in the Silurian period.
    By the Devonian period nearly 360 million years ago, a large variety of plants with
    different shapes and sizes appeared which included tiny creepers and tall trees.)
    The first plants didn't grow on land but in water. They were like microscopic living
    beings which reproduced by splitting up and gradually became more complex.
    Flagellates were so tiny that they left no trace of their existence. It took many years for
    the flagellates to develop into half plant and half animal, then separately into plants and
    animal cells. According to the scientists plant life originated in the sea more than two
    thousand million years ago.

    Những thực vật đầu tiên không mọc trong đất mà trong nước. Chúng giống như những sinh
    vật nhỏ li ti, sinh sản bằng cách chia tách và dần dần đã trở nên phức tạp hơn. Tảo đuôi roi
    (flagellate) nhỏ đến nỗi không còn lưu lại dấu vết về sự hiện diện của chúng. Phải mất nhiều
    năm để tảo đuôi roi phát triển thành một dạng nửa thực vật nửa động vật, sau đó dạng này
    tách ra thành các tế bào thực vật và động vật. Theo các nhà khoa học, sự sống thực vật đã bắt
    nguồn ở biển từ hơn hai tỉ năm trước đây.
    During that period, the land was bare and without any sign of life. The first living beings took
    nearly two and half thousand million years to develop into a plant form. Algae were the first
    plants which spread all over the earth wherever it found water. It was during the Silurian
    period that a great upheaval took place when the crust of the Earth lifted the seabed out of
    water. Thus the sea plants had to adapt themselves to survive. For millions of years they
    vegetated in water but slowly and gradually when the water basins dried up they found
    themselves in contact with air so they changed their shape to suit to their surroundings.
    Later, the evolution of plants progressed rapidly and within a span of 150 million years the
    algae transformed into gigantic trees which formed the immense forests of the Carboniferous
    period.

    Trong thời kỳ này, đất đai còn trơ trụi và không có bất cứ dấu hiệu nào của sự sống. Những
    sinh vật đầu tiên đã mất gần hai tỉ rưỡi năm để phát triển thành dạng thực vật. Tảo là những
    thực vật đầu tiên lan rộng ra khắp trái đất ở bất cứ nơi nào có nước. Trong kỷ Silua, có một sự
    xáo trộn lớn diễn ra khi lớp vỏ trái đất nâng đáy biển lên khỏi mặt nước. Do đó các thực vật
    biển đã tự thích nghi để sống sót. Trong nhiều triệu năm, chúng đã sinh trưởng trong nước
    nhưng chậm và dần dần khi các vùng nước khô đi, chúng tiếp xúc với không khí, do đó chúng
    đã thay đổi hình dạng để thích nghi với môi trường xung quanh. Về sau, sự tiến hoá của các
    thực vật diễn tiến nhanh và trong vòng 150 triệu năm, tảo đã chuyển hoá thành những cây
    khổng lồ vốn tạo thành những khu rừng mênh mông trong kỷ Carbon.
    The first plants that emerged from marine algae were incapable of making seeds to
    reproduce. So, spores were carried along by the wind and when they fell on the ground they
    produced gametophytes which got rooted in the soil and gave rise to egg cells and male cells,
    which when united a new plant was born.
    The spores needed damp ground and this type of plant could spread only in marshy regions
    and lowlands filled with water while the drier places remained bare. Another type of complex
    plants from another variety of plants, were Equiseta, ferns and Lycopodiales which soon
    covered the earth in a dense forest.

    Những thực vật đầu tiên xuất hiện từ tảo biển không có khả năng tạo hạt để sinh sản. Do đó,
    các bào tử được gió mang đi và khi rơi xuống đất, chúng tạo ra những giao tử đâm rễ vào
    trong đất và mọc ra những tế bào trứng và tế bào đực, những tế bào này kết hợp với nhau để
    sinh ra một thực vật mới.
    Các bào tử cần có nền đất ẩm và loại thực vật này chỉ phổ biến trong những vùng đầm lầy và
    vùng đất thấp ngập nước trong khi những nơi khô hơn vẫn còn trơ trụi. Một kiểu thực vật
    phức tạp khác từ những thứ thực vật khác là tháp bút (Equiseta), dương xỉ (fern) và thạch
    tùng (Lycopodiale), nhanh chóng bao phủ mặt đất trong một khu rừng dày đặc.
    Lycopodiale remains form most of the great coal beds of the earth Lycopodia and other
    species thrived for a short period and then their trunks were blown down by storms and
    gradually piled up and were changed to coal. The Equiset or horse tails can be seen even today
    in sandy areas and barren lands. The horsetails are the last descendants of the calamites
    which covered the entire forest in prehistoric times. Nearly twenty five species of horsetails
    are found at present in every part of the earth except Southern Asia. These horsetails were
    like gigantic trees which in the process of degeneration became smaller till it reached the
    dwarf size that we see today.
    Những tàn tích của thạch tùng đã tạo thành những vỉa than đá lớn nhất trên trái đất. Thạch

    tùng và các loài thực vật khác đã sống sót qua một giai đoạn ngắn và sau đó thân cây bị gió
    bão thổi đổ và dần dần tích tụ lại và biến đổi thành than đá. Cây tháp bút hay cây đuôi ngựa
    (horse tail) ngày nay vẫn còn có thể thấy trong những vùng cát và những vùng đất trơ trụi.
    Cây mộc tặc là hậu duệ cuối cùng của loài cây lô mộc (calamite) đã từng bao phủ toàn bộ rừng
    trong thời kỳ tiền sử. Ngày nay, có gần hai mươi loài cây mộc tặc đã được phát hiện ở nhiều
    nơi trên thế giới, chỉ trừ ở Nam Á. Những cây đuôi ngựa này giống như những cây khổng lồ
    mà theo tiến trình thoái hoá đã trở nên nhỏ hơn cho đến khi đạt đến kích thước lùn nhỏ như
    ta thấy ngày nay.
    The climate during that period, when the algae transformed into land plants, was favourable;
    it was quite pleasant climate for the growth of plants. The little plants gave rise to complex
    vegetation like the Giant Sigillaria which were 23 metres high. The Gingko tree is the only
    survivor of the ancient group of tree plants.
    Flowers marked the last stage of evolution in the plant kingdom. They appeared nearly 100
    million years ago. This was an important landmark in the evolution of plants. Thus the
    swarms of pollinating insects soon invaded the land and gave the forests a new look where
    mammals had remained hidden behind these plants for million of year.

    Khí hậu trong thời kỳ đó khi tảo biến đổi thành các thực vật trên cạn, là rất thuận lợi; đó là
    loại khí hậu rất thích hợp cho sự tăng trưởng của thực vật. Những thực vật nhỏ đã biến đổi
    thành thứ thực vật phức tạp hơn như cây Sigillaria khổng lồ cao đến 23 m. Cây bạch quả
    (gingko) là cây duy nhất còn sót lại trong nhóm các thực vật thân gỗ cổ xưa.
    Hoa đã đánh dấu giai đoạn tiến hoá cuối cùng trong giới thực vật. Chúng xuất hiện gần 100
    triệu năm trước đây. Đó là một dấu mốc quan trọng trong sự tiến hoá của thực vật. Theo đó,
    những đàn côn trùng thụ phấn hoa đã nhanh chóng xâm lấn mặt đất và tạo cho những khu
    rừng một cảnh quan mới nơi mà các động vật có vú đã ẩn mình sau những thực vật đó trong
    nhiều triệu năm.
    Plants are the only living things on the earth that can make their own food. Animals are
    directly or indirectly dependent upon plants. A typical plant is made up of roots and shoots
    which include stem, leaves and branches. The branches bear flowers and fruits.

    Thực vật là những sinh vật duy nhất trên trái đất có thể tự tạo ra thức ăn cho mình. Động vật
    phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào thực vật. Một thực vật tiêu biểu được tạo thành từ các
    rễ và các chồi, bao gồm thân, lá và cành. Các cành mang hoa và quả.

    1 Root

    Roots provide support to the plant and enable it to hold onto the soil firmly. They help the
    plants to absorb water and nutrients from the soil. The tips of the roots are protected by the
    root cap and they are deeply rooted in the soil.

    Rễ

    Rễ tạo ra sự chống đỡ cho thực vật và giúp nó bám chắc vào trong đất. Rễ giúp cho thực vật
    hấp thu nước và các dưỡng chất từ đất. Đầu mút của các rễ được bảo vệ bằng các chóp rễ và
    chúng ăn sâu trong đất.

    2 Stem

    Some stems are tender while some are tough. The stem supports the branches and leaves, and
    it provides all the ingredients to the plants to manufacture their food. Stems have a vascular
    system which consists of two kinds of tissues- xylem and phloem which carry the necessary
    roots food and water prepared by the leaves to other parts of the plant. Xylem is made from
    dead woody material and it carries Plant water from the roots to the rest of the plant. Carbon
    dioxide enters the plant through the stomata where photosynthesis takes place and oxygen is
    released. The water evaporates through the individual cells below each stoma. Xylem helps in
    transporting water and nutrients from the soil to the various parts of a plant. Phloem is more
    complex than xylem as it consists of sieve tubes joined together from one end to another end.
    It transports the carbohydrates made in leaves to every living cell in the plant through a
    process known as translocation. Phloem cells are able to survive as they are sustained by
    companion cells which lie between sieve tube elements. It has a nucleus and a number of
    mitochondrias which produce cells energy. The outer wall of the plant cell consists of a
    membrane which is selectively permeable. Substance leave and enter through active
    transport system.

    Thân

    Một số thân thực vật mềm yếu trong khi một số khác lại dai chắc. Thân chống đỡ cho cành và
    lá, và cung cấp tất cả các thành phần mà thực vật cần để sản xuất ra thức ăn của nó. Thân có
    một hệ mạch nhựa bao gồm hai loại mô xylem và mô libe vận chuyển thức ăn và nước cần
    thiết từ rễ, đã được các lá chuẩn bị, đến các phần khác còn lại của thực vật. Xylem được cấu
    tạo từ chất liệu gỗ chết và nó vận chuyển nước từ rễ đến các phần còn lại của thực vật.
    Carbon điôxit đi vào thực vật qua các khí khổng, là nơi mà sự quang hợp diễn ra và giải phóng
    ra ôxi. Nước bốc hơi qua các tế bào riêng rẽ bên dưới từng khí khổng. Xylem giúp cho việc vận
    chuyển nước và các dưỡng chất từ đất đến các phần khác nhau của thực vật. Mô libe phức
    tạp hơn xylem vì nó gồm nhiều ống sàng được nối với nhau từ đầu ống này sang đầu ống kia.
    Libe vận chuyển dioxcác carbon hydrát đã được sản xuất trong lá đến từng tế bào sống trong
    thực vật thông qua một quá trình được gọi là sự chuyển vị. Các tế bào libe có thể sống sót vì
    chúng được duy trì liên tục bởi các tế bào kèm theo nằm giữa các thành phần ống sàng. Tế
    bào libe có một nhân và một số ti lạp thể tạo thành các tế bào năng lượng. Thành ngoài của tế
    bào thực vật gồm một màng có tính thấm chọn lọc. Vật chất đi vào và đi ra thông qua hệ
    thống vận chuyển tích cực.

    3 Leaves

    Leaves are the green parts of a plant. They are made up of numerous tiny packets known as
    cells. The leaf is attached to the plant by a stalk or a petiole, and through the mid part of a leaf
    run veins which not only support the leaf but also carry water and nutrients to all the cells of
    the leaf. A leaf is made up of two parts- an epidermis and a mesophyll. The epidermis is the
    outer layer found on the upper and lower surfaces of a leaf while the mesophyll and
    parenchyma lie between these surfaces. The leaves help the plant to make its food through
    the process of photosynthesis. The leaves absorb carbon dioxcaùcide from the atmosphere
    and roots absorb water and nutrients from the soil; the stem carries the water and nutrients
    to the leaves, here with the help of sunlight chlorophyll (a green pigment in the cells of leaves)
    converts carbon dioxide and water to produce glucose and release oxygen as a waste product.



    Lá là những phần màu lục của thực vật. Chúng được tạo thành từ nhiều gói nhỏ gọi là các tế
    bào. Lá gắn vào thực vật bằng cọng hay cuống lá và có những gân lá chạy qua phần giữa của
    lá. Gân không chỉ để nâng đỡ lá mà còn vận chuyển nước và các dưỡng chất đến tất cả các tế
    bào của lá. Lá được cấu tạo từ hai phần – một lớp biểu bì và phần thịt lá. Biểu bì là lớp bên
    ngoài ở các bề mặt bên trên và bên dưới của lá, trong khi thịt lá là nhu mô nằm giữa các bề
    mặt đó. Lá giúp cho thực vật sản xuất thức ăn của nó thông qua một quá trình gọi là sự quang
    hợp. Các lá hấp thu nước và các dưỡng chất từ đất; thân vận chuyển nước và các dưỡng chất
    đến lá; ở đó, với sự hỗ trợ của ánh sáng mặt trời, chất diệp lục (sắc tố màu lục trong các tế
    bào lá) biến đổi carbon điôxit và nước để tạo ra glucose và giải phóng ôxy như một sản phẩm
    thải.

    4 Reproductive parts of plants

    It is the flowers which carry out the function of reproduction in plants. The female part of a
    flower is known as carpel and the male part is known as stamen. A yellow coloured dust
    known as pollen is produced by the stamen, while female cells (ovules) are produced by the
    carpel. The pollen grains get carried to the female part by the wind, birds, animals and insects.
    The entire process is referred to as pollination. The pollen grain in the ovules fertilises and it
    develops into seeds. A seed is a reproductive part which has the embryo plant and the stored
    food for the plant. Not all seeds grow into new plants; only when the conditions are suitable
    and they are not destroyed by animals, in-sects or birds do they sprout into new plants. Some
    of the plants grow through vegetative propagation like radish, carrot, onion, potato etc. The
    vegetative propagation is a way by which some plants can survive the winters. The part of the
    plant above the ground dies but it remains alive in the form of a corn bulb, tuber or rhizome.

    Các bộ phận sinh sản của thực vật

    Hoa thực hiện chức năng sinh sản trong thực vật. Phần cái của một hoa được gọi là lá noãn
    và phần đực được gọi là nhị hoa. Một thứ bụi màu vàng được gọi là phấn hoa được nhị hoa
    tạo ra, trong khi các tế bào cái (các noãn) được lá noãn tạo ra. Các hạt phấn hoa được mang
    đến phần cái bởi gió, chim, các động vật và côn trùng. Toàn bộ quá trình được gọi là sự thụ
    phấn. Hạt phấn hoa trong các noãn thụ phấn và phát triển thành các hạt giống. Hạt giống là
    bộ phận sinh sản có chứa phôi thực vật và thức ăn dự trữ cho thực vật. Không phải tất cả các
    hạt giống đều mọc thành cây; chỉ khi có những điều kiện thích hợp và không bị hủy hoại bởi
    các động vật, côn trùng hay chim thì chúng mới nẩy mầm thành một thực vật mới. Một số
    thực vật phát triển bằng sự nhân giống sinh dưỡng như cây củ cải, cà rốt, hành, khoai tây, v.v.
    Nhân giống sinh dưỡng là phương thức mà qua đó một số thực vật có thể sống sót qua mùa
    đông. Phần thực vật ở bên trên mặt đất chết đi nhưng thực vật vẫn còn sống ở dạng một củ,
    thân hay thân rễ.
    Another important contribution of plants is that they shape the environment. They are found
    everywhere from the tundra to the rainforests, to the deserts and everywhere except the
    arctic wastelands. It is the plant which maintains the terrestrial environment.
    Scientists have divided plants into
    - Algae
    - Mosses and liverworts
    - Ferns
    - Bryophytes
    - Pteridophytes
    - Angiosperms
    - Gymnosperms

    We will discuss them further in this book.
    Gradually botanists came to know about more and more plants and they grouped these plants
    into various groups. Carolus Linnaeus (1707-78) a Swedish naturalist was the first scientist
    to group plants according to the number and type of stamens and pistils on their flowers.
    Linnaeus system gave each plant two names, the first one indicated the genus or the family
    while the second one indicated the species or a particular member of the family. After some
    years this classification was replaced by a more accurate one.
    Một sự đóng góp quan trọng khác của các thực vật là chúng tạo nên môi trường. Thực vật có
    ở khắp mọi nơi, từ các lãnh nguyên cho đến các rừng mưa nhiệt đới, các sa mạc và bất cứ nơi
    nào, chỉ trừ những miền địa cực hoang vu. Chính thực vật đã duy trì môi trường sống trên mặt
    đất.
    Các nhà khoa học đã phân chia thực vật thành
    - Tảo
    - Rêu và rêu tản
    - Dương xỉ
    - Thực vật hạt trần
    - Thực vật ngành rêu
    - Thực vật không hoa
    - Thực vật hạt kín
    Chúng ta sẽ bàn kỹ hơn về chúng trong sách này.
    Dần dần các nhà thực vật học biết được ngày càng nhiều thứ thực vật hơn và họ đã nhóm
    những thực vật này thành nhiều nhóm khác nhau. Nhà tự nhiên học người Thụy Điển Carolus
    Linnaeus (1707 -78) là nhà khoa học đầu tiên nhóm các thực vật theo số lượng và loại lá noãn
    và nhụy hoa trên hoa của chúng. Hệ thống của Linnaeus gán cho mỗi thực vật hai tên, tên thứ
    nhất để chỉ giống hay họ thực vật trong khi tên thứ hai để chỉ loài hay một thành viên cụ thể
    trong họ. Sau vài năm, cách phân loại này đã được thay thế bởi một cách phân loại chính xác
    hơn.

    5 Can one kind of tree produce the fruit of another
    kind of tree?

    Yes, by the simple method of grafting, which is a technique of attaching the part of one plant
    to another. There are many techniques of grafting from inserting a single bud under the bark
    to grafting long twigs across the wound of a tree so that it heals the wounds on the bark.
    Grafting helps produce better quality fruits.

    Một loại cây có thể tạo ra quả của một loại cây
    khác hay không?

    Có, bằng phương pháp ghép đơn giản, là một kỹ thuật để gắn một phần của một thực vật vào
    thực vật khác. Có nhiều kỹ thuật ghép cây: từ việc chèn một chồi đơn vào bên dưới vỏ cây cho
    đến ghép các nhánh dài qua vết thương của một cây để làm lành lặn các vết thương trên vỏ
    cây.
    Việc ghép cây cho ra những quả có chất lượng tốt hơn.

    6 How Primitive Men Learnt to Grow Plants?

    The primitive men living on the Earth did not know how to grow plants. Thus they spent the
    entire day hunting or gathering fruit and seeds which ripened naturally in the forests. During
    summer season plenty of fruits and seeds were available while during winter there were
    plants which had no fruits. Later on, man discovered that there were other plants which can
    save him from starvation. These were woodland plants with dry fruits which didn't wither
    away in winter e.g. hazel trees, chestnuts, oak and walnuts. Many of these types of trees have
    been found in the lake settlements which revealed that these fruits were important for
    primitive man. During early times the cave dwellers only gathered barley and wheat which
    grew in the forests. As these foods could be kept for longer duration, they took these cereals
    along with them while wandering through the woods, but before proceeding for a journey
    they always scattered a few grains to impress the almighty. After winter when they went back
    to the places where they had stayed earlier they were astonished to see that the grains had
    risen into new plants. Thus they learnt how to grow new plants. Thus cultivation of corn
    started.

    Con người nguyên thủy đã học cách trồng cây như
    thế nào?

    Những người nguyên thuỷ sinh sống trên trái đất không biết cách trồng cây. Do đó họ đã bỏ ra
    cả ngày để săn bắt hay hái lượm quả hay hạt chín tự nhiên trong những khu rừng. Vào mùa
    hè có nhiều quả và hạt trong khi vào mùa đông, các thực vật không có quả. Về sau, con người
    đã phát hiện ra rằng có những thứ thực vật khác có thể giúp cho họ khỏi bị đói. Đó là những
    thực vật mọc trong rừng có quả khô không bị héo quắt vào mùa đông chẳng hạn như là hạt
    phỉ, hạt dẻ, sồi và hạt óc chó. Nhiều loại cây này đã được tìm thấy trong những vùng định cư
    bên hồ, cho thấy rằng những thứ quả này là quan trọng đối với con người nguyên thủy. Trong
    những thời kỳ đầu, người sống trong hang chỉ có thể hái lượm lúa mạch và lúa mì mọc trong
    rừng. Vì những thực phẩm này có thể được lưu giữ trong thời gian dài, họ đã mang theo các
    hạt ngũ cốc này bên mình khi đi lang thang qua những khu rừng, nhưng trước khi bắt đầu
    một chuyến đi, họ thường vung vãi một ít hạt để nhớ ơn Thượng đế. Sau mùa đông, khi họ
    quay về nơi chốn cư trú trước đó, họ ngạc nhiên vì thấy các hạt ngũ cốc đã mọc lên thành
    những cây mới. Từ đó họ đã học được cách trồng những cây mới. Việc trồng trọt hoa màu đã
    bắt đầu từ đó.
    INTERESTING FACT
    Sự kiện đáng chú ý
    The art of bonsai - Bonsai is the art of keeping a tree to a dwarf size. This art
    originated in China nearly 1000 years ago but was made popular by the Japanese.
    Bonsai is a Japanese word meaning 'tray plantation'. Bonsai pots are usually earthen
    ware.
    Nghệ thuật bonsai
    – Bonsai là nghệ thuật nuôi giữ cây với một kích thước thu nhỏ. Nghệ thuật này có nguồn gốc
    từ Trung quốc gần 1000 năm trước đây, nhưng đã trở nên phổ biến ở Nhật. Bonsai là một từ
    tiếng Nhật có nghĩa là “trồng trong khay”. Những chậu Bonsai thường là chậu bằng đất nung.
    CHÚ THÍCH TỪ VỰNG

    Tiny creepers:những loài cây leo nhỏ li ti
    Flagellate:tảo đuôi roi
    Plants and animal cells:tế bào thực vật và
    động vật
    Algae:tảo
    Marshy regions:những vùng đầm lầy
    Equiset:cây tháp bút
    Gingko tree:cây bạch quả
    Stomata:khí khổng
    Photosynthesis:sự quang hợp
    Translocation:sự chuyển vị
    Mitochondrias:ti lạp thể
    Pollination:sự thụ phấn
    Techniques of grafting:kỹ thuật ghép cây

    BACTERIA, LICHENS, ALGAE, AND FUNGUS
    VI KHUẨN, ĐỊA Y, TẢO VÀ NẤM
    7 Bacteria
    Bacteria are minute organisms and the lowest members of the plant kingdom. They are nearly
    0.0001 millimeters in diameter. Some of them are so small that they cannot be seen without
    the help of a microscope. Bacteria has no membrane with an enclosed nucleus mitochondria
    or chloroplasts. It has a single chromosome. Bacteria is usually found in one of the three
    shapes
    - coci -the ball shaped
    - bacilli -the rod shaped
    - spirilla - the cork screw
    Under favourable conditions, they reproduce by splitting into two. Bacteria are single-cell
    organisms which bring about decay in dead plants and animals and break them into simple
    compounds. Bacteria are found everywhere, even in our bodies and it cannot be seen with the
    naked eye. Certain bacteria are very useful as they cause fermentation and help the milk to
    curdle.
    They combine with nitrogen and other elements to make some useful com-pounds for plants.
    Vinegar and certain antibiotics are also prepared from bacteria. Thus we see that they are
    both useful as well as harmful to us.

    Vi khuẩn

    Vi khuẩn là những sinh vật nhỏ và là những thành viên bậc thấp nhất trong giới thực vật. Vi
    khuẩn có đường kính khoảng 0.0001 milimét. Một số loại vi khuẩn nhỏ đến mức chỉ có thể
    nhìn thấy chúng qua kính hiển vi. Vi khuẩn không có màng tế bào với một nhân ti lạp thể hay
    lạp lục đóng kín. Nó có một nhiễm sắc thể đơn. Vi khuẩn thường được thấy ở một trong ba
    dạng:
    - Cầu khuẩn (coci) – dạng hình cầu
    - Trực khuẩn (bacilli) – dạng hình que
    - Xoắn khuẩn (sourilla) – dạng hình xoắn
    Trong những điều kiện thuận lợi, chúng sinh sản bằng cách chia tách thành hai. Vi khuẩn là
    những sinh vật đơn bào gây thối rữa và làm chết các thực vật và động vật rồi phân cắt chúng
    thành những hợp chất đơn giản. Vi khuẩn có ở khắp mọi nơi, ngay cả trong cơ thể của chúng
    ta và nó không thể được nhìn thấy được bằng mắt thường. Một số loại vi khuẩn rất có ích vì
    chúng gây ra sự lên men và giúp làm đông sữa.
    Vi khuẩn kết hợp với nitơ và các nguyên tố khác để tạo ra một số hợp chất hữu ích cho các
    thực vật. Giấm và một số kháng sinh cũng được điều chế ra từ vi khuẩn. Do đó, ta thấy rằng vi
    khuẩn vừa có ích vừa có hại cho chúng ta.

    8 Lichens

    Lichens are unusual creations as they are not a single organism but a combination of algae
    and fungus. They live together, the algae is enclosed inside a fungus. Since algae has
    chlorophyll, with the help of sunlight it is able to make its food which is used even by fungus.
    The fungus provides anchorage to algae so that it easily absorbs the nutrients and water.
    Lichens mostly live on rocks, walls and trunks of the tree. This partnership of fungus and algae
    is known as symbiosis.

    Địa y

    Địa y là những tạo vật khác thường vì chúng không phải là một sinh vật riêng biệt mà là một
    tổ hợp của tảo và nấm. Chúng sống cùng nhau, tảo được bao bọc bên trong nấm. Vì tảo có
    diệp lục tố, với sự hỗ trợ của ánh nắng mặt trời nó có thể sản xuất ra thức ăn cho cả nấm sử
    dụng. Nấm cung ứng nơi neo đậu cho tảo để tảo có thể hấp thu dễ dàng các dưỡng chất và
    nước. Địa y sống chủ yếu ở trên đá, trên các bức tường và các khúc cây. Sự cộng tác giữa nấm
    và tảo được gọi là sự cộng sinh.

    9 Algae

    Algae are a diverse group of primarly aquatic plant like organisms which were previously
    classified as a primitive subkingdom of the plant kingdom called the 'thallophytes'. But at
    present they have been classified into another major group known as 'eukarya' which
    includes animals and the higher plants. Algae have chlorophyll and can manufacture their own
    food through photosynthesis. They are found in polluted water, in seas, rivers and lakes, on
    soils and walls, in animals and plants; in fact everywhere. The simplest algae are single cells.
    The more complex one co-sists of many cells grouped in a colony which is spherical in shape,
    e.g. Volvox.
    Seaweeds are algae that are found in the sea or brackish water. Seaweeds are of three basic
    colours- red, brown and green. Most seaweeds remain submerged under the sea but during
    the low tides they are exposed to the sun. Seaweeds use the energy of sun to carry on the
    process of photosynthesis which helps them to oxygenate the water.
    Algae are usually fish food, and they also supply oxygen to water through photosynthesis.

    Tảo

    Tảo là một nhóm đa dạng các thực vật chủ yếu sống ở nước như những sinh vật vốn trước đây
    được phân loại thành một giới phụ gọi là “ thực vật có tản” (thallophytes). Nhưng hiện nay,
    chúng được phân loại vào nhóm chính gọi là “eukarya” gồm các động vật và thực vật bậc cao
    hơn. Tảo có diệp lục tố và có thể tự sản xuất ra thức ăn cho mình thông qua sự quang hợp.
    Tảo được tìm thấy trong nước bị ô nhiễm, trong biển, sông và hồ, trên đất, trên các bức tường,
    trong các động vật và thực vật; trong thực tế là ở khắp mọi nơi. Loại tảo đơn giản nhất là tảo
    đơn bào. Những loại tảo phức tạp hơn gồm nhiều tế bào được nhóm lại ...
     
    Gửi ý kiến