Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Những Điều Bạn Nên Biết Về Thế Giới Thực Vật

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Huy Lượng
Ngày gửi: 17h:49' 01-07-2025
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Huy Lượng
Ngày gửi: 17h:49' 01-07-2025
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
SỰ TIẾN HÓA CỦA THỰC VẬT
1 Root - Rễ
2 Stem - Thân
3 Leaves - Lá
4 Reproductive parts of plants - Các bộ phận sinh sản của thực vật
5 Can one kind of tree produce the fruit of another kind of tree? - Một loại cây có thể tạo ra quả
của một loại cây khác hay không?
6 How Primitive Men Learnt to Grow Plants? - Con người nguyên thủy đã học cách trồng cây
như thế nào?
BACTERIA, LICHENS, ALGAE AND FUNGUS - VI KHUẨN, ĐỊA Y, TẢO VÀ NẤM
7 Bacteria - Vi khuẩn
8 Lichens - Địa y
9 Algae - Tảo
10 Fungus - Nấm
BRYOPHYTES - THỰC VẬT NGÀNH RÊU
11 Moss - Rêu
12 Ferns - Dương xỉ
13 Tree Ferns - Cây dương xỉ
14 Dicksonia Antarctica - Dương xỉ Dicksonia Antarctica
15 Liverworts - Rêu tản
16 Hornworts - Rong sừng
GYMNOSPERMS - THỰC VẬT HẠT TRẦN
17 Cycads - Thực vật nhóm mè
18 Gingko - Thực vật nhóm bạch quả
19 Conifers - Thực vật nhóm tùng bách
20 Douglas Fir - Linh sam Douglas
21 Scots pine - Thông Scốt-len
22 Giant Sequoia - Cự tùng khổng lồ
ANGIOSPERMS - THỰC VẬT HẠT KÍN
23 Some of the flowering plants and trees - Một số thực vật và cây thân mộc có hoa
24 Deciduous trees - Các cây rụng lá
POISONOUS, INSECTIVORES AND CARNIVORES - CÁC THỰC VẬT ĐỘC, THỰC VẬT ĂN CÔN
TRÙNG VÀ THỰC VẬT ĂN THỊT
25 Poisonous plants - Các thực vật độc
26 Insectivores and carnivores - Các thực vật ăn côn trùng và ăn thịt
STINKING AND STINGING PLANTS - THỰC VẬT CÓ MÙI HÔI VÀ THỰC VẬT CÓ GAI CHÍCH
27 Stinking plants - Thực vật có mùi hôi
28 Stinging plants - Thực vật có gai chích
CLIMBING PLANTS - THỰC VẬT LEO
29 Virginia Creeper - Cây leo Virginia
30 White Bryony - Cây leo Bryony trắng
31 English Ivy - Cây thường xuân Anh
32 Bindweed - Cây bìm bìm
WATER PLANTS - THỰC VẬT THUỶ SINH
33 Water Hyacinths - Lục bình
34 Giant Sea Kelp - Tảo bẹ khổng lồ
35 Water-Lily - Bông súng
36 Water Lettuce - Rau diếp nước
USEFUL PLANTS - THỰC VẬT CÓ ÍCH
37 Cotton - Cây bông vải
38 Rubber - Cây cao su
39 Cocoa - Cây ca cao
40 Tea - Cây trà
41 Cinchona - Cây canh-ki-na
42 Aloe Vera - Cây lô hội
43 Medicinal Plants - Các cây làm thuốc
44 Bamboo - Cây tre
45 Banana - Cây chuối
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
LỜI NÓI ĐẦU
Sách này trình bày dưới dạng song ngữ Anh - Việt những kiến thức căn bản về thế giới thực
vật nhằm giúp bạn đọc có điều kiện tiếp cận sự tiến hóa đầy kỳ diệu của vô số các loài thực
vật nảy mầm và tăng trưởng trên trái đất của chúng ta.
Các chủ điểm của sách thật đa dạng như: sự tiến hóa của thực vật, vi khuẩn, địa y, tảo và
nấm, thực vật ngành rêu, thực vật hạt trần và hạt kín v.v.
Cuối mỗi bài, sách có chú thích các cụm từ và mẫu câu nhằm giúp bạn đọc cũng cố vốn từ
vựng. Sách cũng có nhiều hình ảnh minh họa nhằm làm sáng tỏ và phong phú hóa một số
nội dung.
Ngoài ra, để luyện kỹ năng nghe hiểu cho bạn đọc, chúng tôi có kèm đĩa CD gồm các bài đọc
tiếng Anh, với nội dung được đọc chậm rãi để bạn đọc tiện theo dõi.
Hy vọng rằng với nội dung phong phú, bố cục mạch lạc, sách sẽ là nguồn tham khảo quý báu
cho bạn đọc.
Chúc các bạn thành công.
EVOLUTION OF PLANTS
SỰ TIẾN HÓA CỦA THỰC VẬT
Có hơn 250,000 loài thực vật, bao gồm rêu, dương xỉ, tùng bách, các thực vật có hoa, v.v.
Thực vật đã có trên trái đất từ rất lâu. Chúng đã xuất hiện lần đầu ở kỷ Ocdovic và
không giống như những thực vật ngày nay mãi cho đến cuối kỷ Silua. Trong Kỷ Đevon
gần 360 triệu năm trước đây, nhiều loại thực vật với hình dạng và kích thước khác
nhau đã xuất hiện, gồm cả những loài cây leo nhỏ li ti cho đến những cây cao.
(There are more than 250,000 species of plants which include mosses, ferns, conifers,
flowering plants etc. Plants have been there for a very long time. They first appeared in
the Ordovician period and didn't resemble modern plants till late in the Silurian period.
By the Devonian period nearly 360 million years ago, a large variety of plants with
different shapes and sizes appeared which included tiny creepers and tall trees.)
The first plants didn't grow on land but in water. They were like microscopic living
beings which reproduced by splitting up and gradually became more complex.
Flagellates were so tiny that they left no trace of their existence. It took many years for
the flagellates to develop into half plant and half animal, then separately into plants and
animal cells. According to the scientists plant life originated in the sea more than two
thousand million years ago.
Những thực vật đầu tiên không mọc trong đất mà trong nước. Chúng giống như những sinh
vật nhỏ li ti, sinh sản bằng cách chia tách và dần dần đã trở nên phức tạp hơn. Tảo đuôi roi
(flagellate) nhỏ đến nỗi không còn lưu lại dấu vết về sự hiện diện của chúng. Phải mất nhiều
năm để tảo đuôi roi phát triển thành một dạng nửa thực vật nửa động vật, sau đó dạng này
tách ra thành các tế bào thực vật và động vật. Theo các nhà khoa học, sự sống thực vật đã bắt
nguồn ở biển từ hơn hai tỉ năm trước đây.
During that period, the land was bare and without any sign of life. The first living beings took
nearly two and half thousand million years to develop into a plant form. Algae were the first
plants which spread all over the earth wherever it found water. It was during the Silurian
period that a great upheaval took place when the crust of the Earth lifted the seabed out of
water. Thus the sea plants had to adapt themselves to survive. For millions of years they
vegetated in water but slowly and gradually when the water basins dried up they found
themselves in contact with air so they changed their shape to suit to their surroundings.
Later, the evolution of plants progressed rapidly and within a span of 150 million years the
algae transformed into gigantic trees which formed the immense forests of the Carboniferous
period.
Trong thời kỳ này, đất đai còn trơ trụi và không có bất cứ dấu hiệu nào của sự sống. Những
sinh vật đầu tiên đã mất gần hai tỉ rưỡi năm để phát triển thành dạng thực vật. Tảo là những
thực vật đầu tiên lan rộng ra khắp trái đất ở bất cứ nơi nào có nước. Trong kỷ Silua, có một sự
xáo trộn lớn diễn ra khi lớp vỏ trái đất nâng đáy biển lên khỏi mặt nước. Do đó các thực vật
biển đã tự thích nghi để sống sót. Trong nhiều triệu năm, chúng đã sinh trưởng trong nước
nhưng chậm và dần dần khi các vùng nước khô đi, chúng tiếp xúc với không khí, do đó chúng
đã thay đổi hình dạng để thích nghi với môi trường xung quanh. Về sau, sự tiến hoá của các
thực vật diễn tiến nhanh và trong vòng 150 triệu năm, tảo đã chuyển hoá thành những cây
khổng lồ vốn tạo thành những khu rừng mênh mông trong kỷ Carbon.
The first plants that emerged from marine algae were incapable of making seeds to
reproduce. So, spores were carried along by the wind and when they fell on the ground they
produced gametophytes which got rooted in the soil and gave rise to egg cells and male cells,
which when united a new plant was born.
The spores needed damp ground and this type of plant could spread only in marshy regions
and lowlands filled with water while the drier places remained bare. Another type of complex
plants from another variety of plants, were Equiseta, ferns and Lycopodiales which soon
covered the earth in a dense forest.
Những thực vật đầu tiên xuất hiện từ tảo biển không có khả năng tạo hạt để sinh sản. Do đó,
các bào tử được gió mang đi và khi rơi xuống đất, chúng tạo ra những giao tử đâm rễ vào
trong đất và mọc ra những tế bào trứng và tế bào đực, những tế bào này kết hợp với nhau để
sinh ra một thực vật mới.
Các bào tử cần có nền đất ẩm và loại thực vật này chỉ phổ biến trong những vùng đầm lầy và
vùng đất thấp ngập nước trong khi những nơi khô hơn vẫn còn trơ trụi. Một kiểu thực vật
phức tạp khác từ những thứ thực vật khác là tháp bút (Equiseta), dương xỉ (fern) và thạch
tùng (Lycopodiale), nhanh chóng bao phủ mặt đất trong một khu rừng dày đặc.
Lycopodiale remains form most of the great coal beds of the earth Lycopodia and other
species thrived for a short period and then their trunks were blown down by storms and
gradually piled up and were changed to coal. The Equiset or horse tails can be seen even today
in sandy areas and barren lands. The horsetails are the last descendants of the calamites
which covered the entire forest in prehistoric times. Nearly twenty five species of horsetails
are found at present in every part of the earth except Southern Asia. These horsetails were
like gigantic trees which in the process of degeneration became smaller till it reached the
dwarf size that we see today.
Những tàn tích của thạch tùng đã tạo thành những vỉa than đá lớn nhất trên trái đất. Thạch
tùng và các loài thực vật khác đã sống sót qua một giai đoạn ngắn và sau đó thân cây bị gió
bão thổi đổ và dần dần tích tụ lại và biến đổi thành than đá. Cây tháp bút hay cây đuôi ngựa
(horse tail) ngày nay vẫn còn có thể thấy trong những vùng cát và những vùng đất trơ trụi.
Cây mộc tặc là hậu duệ cuối cùng của loài cây lô mộc (calamite) đã từng bao phủ toàn bộ rừng
trong thời kỳ tiền sử. Ngày nay, có gần hai mươi loài cây mộc tặc đã được phát hiện ở nhiều
nơi trên thế giới, chỉ trừ ở Nam Á. Những cây đuôi ngựa này giống như những cây khổng lồ
mà theo tiến trình thoái hoá đã trở nên nhỏ hơn cho đến khi đạt đến kích thước lùn nhỏ như
ta thấy ngày nay.
The climate during that period, when the algae transformed into land plants, was favourable;
it was quite pleasant climate for the growth of plants. The little plants gave rise to complex
vegetation like the Giant Sigillaria which were 23 metres high. The Gingko tree is the only
survivor of the ancient group of tree plants.
Flowers marked the last stage of evolution in the plant kingdom. They appeared nearly 100
million years ago. This was an important landmark in the evolution of plants. Thus the
swarms of pollinating insects soon invaded the land and gave the forests a new look where
mammals had remained hidden behind these plants for million of year.
Khí hậu trong thời kỳ đó khi tảo biến đổi thành các thực vật trên cạn, là rất thuận lợi; đó là
loại khí hậu rất thích hợp cho sự tăng trưởng của thực vật. Những thực vật nhỏ đã biến đổi
thành thứ thực vật phức tạp hơn như cây Sigillaria khổng lồ cao đến 23 m. Cây bạch quả
(gingko) là cây duy nhất còn sót lại trong nhóm các thực vật thân gỗ cổ xưa.
Hoa đã đánh dấu giai đoạn tiến hoá cuối cùng trong giới thực vật. Chúng xuất hiện gần 100
triệu năm trước đây. Đó là một dấu mốc quan trọng trong sự tiến hoá của thực vật. Theo đó,
những đàn côn trùng thụ phấn hoa đã nhanh chóng xâm lấn mặt đất và tạo cho những khu
rừng một cảnh quan mới nơi mà các động vật có vú đã ẩn mình sau những thực vật đó trong
nhiều triệu năm.
Plants are the only living things on the earth that can make their own food. Animals are
directly or indirectly dependent upon plants. A typical plant is made up of roots and shoots
which include stem, leaves and branches. The branches bear flowers and fruits.
Thực vật là những sinh vật duy nhất trên trái đất có thể tự tạo ra thức ăn cho mình. Động vật
phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào thực vật. Một thực vật tiêu biểu được tạo thành từ các
rễ và các chồi, bao gồm thân, lá và cành. Các cành mang hoa và quả.
1 Root
Roots provide support to the plant and enable it to hold onto the soil firmly. They help the
plants to absorb water and nutrients from the soil. The tips of the roots are protected by the
root cap and they are deeply rooted in the soil.
Rễ
Rễ tạo ra sự chống đỡ cho thực vật và giúp nó bám chắc vào trong đất. Rễ giúp cho thực vật
hấp thu nước và các dưỡng chất từ đất. Đầu mút của các rễ được bảo vệ bằng các chóp rễ và
chúng ăn sâu trong đất.
2 Stem
Some stems are tender while some are tough. The stem supports the branches and leaves, and
it provides all the ingredients to the plants to manufacture their food. Stems have a vascular
system which consists of two kinds of tissues- xylem and phloem which carry the necessary
roots food and water prepared by the leaves to other parts of the plant. Xylem is made from
dead woody material and it carries Plant water from the roots to the rest of the plant. Carbon
dioxide enters the plant through the stomata where photosynthesis takes place and oxygen is
released. The water evaporates through the individual cells below each stoma. Xylem helps in
transporting water and nutrients from the soil to the various parts of a plant. Phloem is more
complex than xylem as it consists of sieve tubes joined together from one end to another end.
It transports the carbohydrates made in leaves to every living cell in the plant through a
process known as translocation. Phloem cells are able to survive as they are sustained by
companion cells which lie between sieve tube elements. It has a nucleus and a number of
mitochondrias which produce cells energy. The outer wall of the plant cell consists of a
membrane which is selectively permeable. Substance leave and enter through active
transport system.
Thân
Một số thân thực vật mềm yếu trong khi một số khác lại dai chắc. Thân chống đỡ cho cành và
lá, và cung cấp tất cả các thành phần mà thực vật cần để sản xuất ra thức ăn của nó. Thân có
một hệ mạch nhựa bao gồm hai loại mô xylem và mô libe vận chuyển thức ăn và nước cần
thiết từ rễ, đã được các lá chuẩn bị, đến các phần khác còn lại của thực vật. Xylem được cấu
tạo từ chất liệu gỗ chết và nó vận chuyển nước từ rễ đến các phần còn lại của thực vật.
Carbon điôxit đi vào thực vật qua các khí khổng, là nơi mà sự quang hợp diễn ra và giải phóng
ra ôxi. Nước bốc hơi qua các tế bào riêng rẽ bên dưới từng khí khổng. Xylem giúp cho việc vận
chuyển nước và các dưỡng chất từ đất đến các phần khác nhau của thực vật. Mô libe phức
tạp hơn xylem vì nó gồm nhiều ống sàng được nối với nhau từ đầu ống này sang đầu ống kia.
Libe vận chuyển dioxcác carbon hydrát đã được sản xuất trong lá đến từng tế bào sống trong
thực vật thông qua một quá trình được gọi là sự chuyển vị. Các tế bào libe có thể sống sót vì
chúng được duy trì liên tục bởi các tế bào kèm theo nằm giữa các thành phần ống sàng. Tế
bào libe có một nhân và một số ti lạp thể tạo thành các tế bào năng lượng. Thành ngoài của tế
bào thực vật gồm một màng có tính thấm chọn lọc. Vật chất đi vào và đi ra thông qua hệ
thống vận chuyển tích cực.
3 Leaves
Leaves are the green parts of a plant. They are made up of numerous tiny packets known as
cells. The leaf is attached to the plant by a stalk or a petiole, and through the mid part of a leaf
run veins which not only support the leaf but also carry water and nutrients to all the cells of
the leaf. A leaf is made up of two parts- an epidermis and a mesophyll. The epidermis is the
outer layer found on the upper and lower surfaces of a leaf while the mesophyll and
parenchyma lie between these surfaces. The leaves help the plant to make its food through
the process of photosynthesis. The leaves absorb carbon dioxcaùcide from the atmosphere
and roots absorb water and nutrients from the soil; the stem carries the water and nutrients
to the leaves, here with the help of sunlight chlorophyll (a green pigment in the cells of leaves)
converts carbon dioxide and water to produce glucose and release oxygen as a waste product.
Lá
Lá là những phần màu lục của thực vật. Chúng được tạo thành từ nhiều gói nhỏ gọi là các tế
bào. Lá gắn vào thực vật bằng cọng hay cuống lá và có những gân lá chạy qua phần giữa của
lá. Gân không chỉ để nâng đỡ lá mà còn vận chuyển nước và các dưỡng chất đến tất cả các tế
bào của lá. Lá được cấu tạo từ hai phần – một lớp biểu bì và phần thịt lá. Biểu bì là lớp bên
ngoài ở các bề mặt bên trên và bên dưới của lá, trong khi thịt lá là nhu mô nằm giữa các bề
mặt đó. Lá giúp cho thực vật sản xuất thức ăn của nó thông qua một quá trình gọi là sự quang
hợp. Các lá hấp thu nước và các dưỡng chất từ đất; thân vận chuyển nước và các dưỡng chất
đến lá; ở đó, với sự hỗ trợ của ánh sáng mặt trời, chất diệp lục (sắc tố màu lục trong các tế
bào lá) biến đổi carbon điôxit và nước để tạo ra glucose và giải phóng ôxy như một sản phẩm
thải.
4 Reproductive parts of plants
It is the flowers which carry out the function of reproduction in plants. The female part of a
flower is known as carpel and the male part is known as stamen. A yellow coloured dust
known as pollen is produced by the stamen, while female cells (ovules) are produced by the
carpel. The pollen grains get carried to the female part by the wind, birds, animals and insects.
The entire process is referred to as pollination. The pollen grain in the ovules fertilises and it
develops into seeds. A seed is a reproductive part which has the embryo plant and the stored
food for the plant. Not all seeds grow into new plants; only when the conditions are suitable
and they are not destroyed by animals, in-sects or birds do they sprout into new plants. Some
of the plants grow through vegetative propagation like radish, carrot, onion, potato etc. The
vegetative propagation is a way by which some plants can survive the winters. The part of the
plant above the ground dies but it remains alive in the form of a corn bulb, tuber or rhizome.
Các bộ phận sinh sản của thực vật
Hoa thực hiện chức năng sinh sản trong thực vật. Phần cái của một hoa được gọi là lá noãn
và phần đực được gọi là nhị hoa. Một thứ bụi màu vàng được gọi là phấn hoa được nhị hoa
tạo ra, trong khi các tế bào cái (các noãn) được lá noãn tạo ra. Các hạt phấn hoa được mang
đến phần cái bởi gió, chim, các động vật và côn trùng. Toàn bộ quá trình được gọi là sự thụ
phấn. Hạt phấn hoa trong các noãn thụ phấn và phát triển thành các hạt giống. Hạt giống là
bộ phận sinh sản có chứa phôi thực vật và thức ăn dự trữ cho thực vật. Không phải tất cả các
hạt giống đều mọc thành cây; chỉ khi có những điều kiện thích hợp và không bị hủy hoại bởi
các động vật, côn trùng hay chim thì chúng mới nẩy mầm thành một thực vật mới. Một số
thực vật phát triển bằng sự nhân giống sinh dưỡng như cây củ cải, cà rốt, hành, khoai tây, v.v.
Nhân giống sinh dưỡng là phương thức mà qua đó một số thực vật có thể sống sót qua mùa
đông. Phần thực vật ở bên trên mặt đất chết đi nhưng thực vật vẫn còn sống ở dạng một củ,
thân hay thân rễ.
Another important contribution of plants is that they shape the environment. They are found
everywhere from the tundra to the rainforests, to the deserts and everywhere except the
arctic wastelands. It is the plant which maintains the terrestrial environment.
Scientists have divided plants into
- Algae
- Mosses and liverworts
- Ferns
- Bryophytes
- Pteridophytes
- Angiosperms
- Gymnosperms
We will discuss them further in this book.
Gradually botanists came to know about more and more plants and they grouped these plants
into various groups. Carolus Linnaeus (1707-78) a Swedish naturalist was the first scientist
to group plants according to the number and type of stamens and pistils on their flowers.
Linnaeus system gave each plant two names, the first one indicated the genus or the family
while the second one indicated the species or a particular member of the family. After some
years this classification was replaced by a more accurate one.
Một sự đóng góp quan trọng khác của các thực vật là chúng tạo nên môi trường. Thực vật có
ở khắp mọi nơi, từ các lãnh nguyên cho đến các rừng mưa nhiệt đới, các sa mạc và bất cứ nơi
nào, chỉ trừ những miền địa cực hoang vu. Chính thực vật đã duy trì môi trường sống trên mặt
đất.
Các nhà khoa học đã phân chia thực vật thành
- Tảo
- Rêu và rêu tản
- Dương xỉ
- Thực vật hạt trần
- Thực vật ngành rêu
- Thực vật không hoa
- Thực vật hạt kín
Chúng ta sẽ bàn kỹ hơn về chúng trong sách này.
Dần dần các nhà thực vật học biết được ngày càng nhiều thứ thực vật hơn và họ đã nhóm
những thực vật này thành nhiều nhóm khác nhau. Nhà tự nhiên học người Thụy Điển Carolus
Linnaeus (1707 -78) là nhà khoa học đầu tiên nhóm các thực vật theo số lượng và loại lá noãn
và nhụy hoa trên hoa của chúng. Hệ thống của Linnaeus gán cho mỗi thực vật hai tên, tên thứ
nhất để chỉ giống hay họ thực vật trong khi tên thứ hai để chỉ loài hay một thành viên cụ thể
trong họ. Sau vài năm, cách phân loại này đã được thay thế bởi một cách phân loại chính xác
hơn.
5 Can one kind of tree produce the fruit of another
kind of tree?
Yes, by the simple method of grafting, which is a technique of attaching the part of one plant
to another. There are many techniques of grafting from inserting a single bud under the bark
to grafting long twigs across the wound of a tree so that it heals the wounds on the bark.
Grafting helps produce better quality fruits.
Một loại cây có thể tạo ra quả của một loại cây
khác hay không?
Có, bằng phương pháp ghép đơn giản, là một kỹ thuật để gắn một phần của một thực vật vào
thực vật khác. Có nhiều kỹ thuật ghép cây: từ việc chèn một chồi đơn vào bên dưới vỏ cây cho
đến ghép các nhánh dài qua vết thương của một cây để làm lành lặn các vết thương trên vỏ
cây.
Việc ghép cây cho ra những quả có chất lượng tốt hơn.
6 How Primitive Men Learnt to Grow Plants?
The primitive men living on the Earth did not know how to grow plants. Thus they spent the
entire day hunting or gathering fruit and seeds which ripened naturally in the forests. During
summer season plenty of fruits and seeds were available while during winter there were
plants which had no fruits. Later on, man discovered that there were other plants which can
save him from starvation. These were woodland plants with dry fruits which didn't wither
away in winter e.g. hazel trees, chestnuts, oak and walnuts. Many of these types of trees have
been found in the lake settlements which revealed that these fruits were important for
primitive man. During early times the cave dwellers only gathered barley and wheat which
grew in the forests. As these foods could be kept for longer duration, they took these cereals
along with them while wandering through the woods, but before proceeding for a journey
they always scattered a few grains to impress the almighty. After winter when they went back
to the places where they had stayed earlier they were astonished to see that the grains had
risen into new plants. Thus they learnt how to grow new plants. Thus cultivation of corn
started.
Con người nguyên thủy đã học cách trồng cây như
thế nào?
Những người nguyên thuỷ sinh sống trên trái đất không biết cách trồng cây. Do đó họ đã bỏ ra
cả ngày để săn bắt hay hái lượm quả hay hạt chín tự nhiên trong những khu rừng. Vào mùa
hè có nhiều quả và hạt trong khi vào mùa đông, các thực vật không có quả. Về sau, con người
đã phát hiện ra rằng có những thứ thực vật khác có thể giúp cho họ khỏi bị đói. Đó là những
thực vật mọc trong rừng có quả khô không bị héo quắt vào mùa đông chẳng hạn như là hạt
phỉ, hạt dẻ, sồi và hạt óc chó. Nhiều loại cây này đã được tìm thấy trong những vùng định cư
bên hồ, cho thấy rằng những thứ quả này là quan trọng đối với con người nguyên thủy. Trong
những thời kỳ đầu, người sống trong hang chỉ có thể hái lượm lúa mạch và lúa mì mọc trong
rừng. Vì những thực phẩm này có thể được lưu giữ trong thời gian dài, họ đã mang theo các
hạt ngũ cốc này bên mình khi đi lang thang qua những khu rừng, nhưng trước khi bắt đầu
một chuyến đi, họ thường vung vãi một ít hạt để nhớ ơn Thượng đế. Sau mùa đông, khi họ
quay về nơi chốn cư trú trước đó, họ ngạc nhiên vì thấy các hạt ngũ cốc đã mọc lên thành
những cây mới. Từ đó họ đã học được cách trồng những cây mới. Việc trồng trọt hoa màu đã
bắt đầu từ đó.
INTERESTING FACT
Sự kiện đáng chú ý
The art of bonsai - Bonsai is the art of keeping a tree to a dwarf size. This art
originated in China nearly 1000 years ago but was made popular by the Japanese.
Bonsai is a Japanese word meaning 'tray plantation'. Bonsai pots are usually earthen
ware.
Nghệ thuật bonsai
– Bonsai là nghệ thuật nuôi giữ cây với một kích thước thu nhỏ. Nghệ thuật này có nguồn gốc
từ Trung quốc gần 1000 năm trước đây, nhưng đã trở nên phổ biến ở Nhật. Bonsai là một từ
tiếng Nhật có nghĩa là “trồng trong khay”. Những chậu Bonsai thường là chậu bằng đất nung.
CHÚ THÍCH TỪ VỰNG
Tiny creepers:những loài cây leo nhỏ li ti
Flagellate:tảo đuôi roi
Plants and animal cells:tế bào thực vật và
động vật
Algae:tảo
Marshy regions:những vùng đầm lầy
Equiset:cây tháp bút
Gingko tree:cây bạch quả
Stomata:khí khổng
Photosynthesis:sự quang hợp
Translocation:sự chuyển vị
Mitochondrias:ti lạp thể
Pollination:sự thụ phấn
Techniques of grafting:kỹ thuật ghép cây
BACTERIA, LICHENS, ALGAE, AND FUNGUS
VI KHUẨN, ĐỊA Y, TẢO VÀ NẤM
7 Bacteria
Bacteria are minute organisms and the lowest members of the plant kingdom. They are nearly
0.0001 millimeters in diameter. Some of them are so small that they cannot be seen without
the help of a microscope. Bacteria has no membrane with an enclosed nucleus mitochondria
or chloroplasts. It has a single chromosome. Bacteria is usually found in one of the three
shapes
- coci -the ball shaped
- bacilli -the rod shaped
- spirilla - the cork screw
Under favourable conditions, they reproduce by splitting into two. Bacteria are single-cell
organisms which bring about decay in dead plants and animals and break them into simple
compounds. Bacteria are found everywhere, even in our bodies and it cannot be seen with the
naked eye. Certain bacteria are very useful as they cause fermentation and help the milk to
curdle.
They combine with nitrogen and other elements to make some useful com-pounds for plants.
Vinegar and certain antibiotics are also prepared from bacteria. Thus we see that they are
both useful as well as harmful to us.
Vi khuẩn
Vi khuẩn là những sinh vật nhỏ và là những thành viên bậc thấp nhất trong giới thực vật. Vi
khuẩn có đường kính khoảng 0.0001 milimét. Một số loại vi khuẩn nhỏ đến mức chỉ có thể
nhìn thấy chúng qua kính hiển vi. Vi khuẩn không có màng tế bào với một nhân ti lạp thể hay
lạp lục đóng kín. Nó có một nhiễm sắc thể đơn. Vi khuẩn thường được thấy ở một trong ba
dạng:
- Cầu khuẩn (coci) – dạng hình cầu
- Trực khuẩn (bacilli) – dạng hình que
- Xoắn khuẩn (sourilla) – dạng hình xoắn
Trong những điều kiện thuận lợi, chúng sinh sản bằng cách chia tách thành hai. Vi khuẩn là
những sinh vật đơn bào gây thối rữa và làm chết các thực vật và động vật rồi phân cắt chúng
thành những hợp chất đơn giản. Vi khuẩn có ở khắp mọi nơi, ngay cả trong cơ thể của chúng
ta và nó không thể được nhìn thấy được bằng mắt thường. Một số loại vi khuẩn rất có ích vì
chúng gây ra sự lên men và giúp làm đông sữa.
Vi khuẩn kết hợp với nitơ và các nguyên tố khác để tạo ra một số hợp chất hữu ích cho các
thực vật. Giấm và một số kháng sinh cũng được điều chế ra từ vi khuẩn. Do đó, ta thấy rằng vi
khuẩn vừa có ích vừa có hại cho chúng ta.
8 Lichens
Lichens are unusual creations as they are not a single organism but a combination of algae
and fungus. They live together, the algae is enclosed inside a fungus. Since algae has
chlorophyll, with the help of sunlight it is able to make its food which is used even by fungus.
The fungus provides anchorage to algae so that it easily absorbs the nutrients and water.
Lichens mostly live on rocks, walls and trunks of the tree. This partnership of fungus and algae
is known as symbiosis.
Địa y
Địa y là những tạo vật khác thường vì chúng không phải là một sinh vật riêng biệt mà là một
tổ hợp của tảo và nấm. Chúng sống cùng nhau, tảo được bao bọc bên trong nấm. Vì tảo có
diệp lục tố, với sự hỗ trợ của ánh nắng mặt trời nó có thể sản xuất ra thức ăn cho cả nấm sử
dụng. Nấm cung ứng nơi neo đậu cho tảo để tảo có thể hấp thu dễ dàng các dưỡng chất và
nước. Địa y sống chủ yếu ở trên đá, trên các bức tường và các khúc cây. Sự cộng tác giữa nấm
và tảo được gọi là sự cộng sinh.
9 Algae
Algae are a diverse group of primarly aquatic plant like organisms which were previously
classified as a primitive subkingdom of the plant kingdom called the 'thallophytes'. But at
present they have been classified into another major group known as 'eukarya' which
includes animals and the higher plants. Algae have chlorophyll and can manufacture their own
food through photosynthesis. They are found in polluted water, in seas, rivers and lakes, on
soils and walls, in animals and plants; in fact everywhere. The simplest algae are single cells.
The more complex one co-sists of many cells grouped in a colony which is spherical in shape,
e.g. Volvox.
Seaweeds are algae that are found in the sea or brackish water. Seaweeds are of three basic
colours- red, brown and green. Most seaweeds remain submerged under the sea but during
the low tides they are exposed to the sun. Seaweeds use the energy of sun to carry on the
process of photosynthesis which helps them to oxygenate the water.
Algae are usually fish food, and they also supply oxygen to water through photosynthesis.
Tảo
Tảo là một nhóm đa dạng các thực vật chủ yếu sống ở nước như những sinh vật vốn trước đây
được phân loại thành một giới phụ gọi là “ thực vật có tản” (thallophytes). Nhưng hiện nay,
chúng được phân loại vào nhóm chính gọi là “eukarya” gồm các động vật và thực vật bậc cao
hơn. Tảo có diệp lục tố và có thể tự sản xuất ra thức ăn cho mình thông qua sự quang hợp.
Tảo được tìm thấy trong nước bị ô nhiễm, trong biển, sông và hồ, trên đất, trên các bức tường,
trong các động vật và thực vật; trong thực tế là ở khắp mọi nơi. Loại tảo đơn giản nhất là tảo
đơn bào. Những loại tảo phức tạp hơn gồm nhiều tế bào được nhóm lại ...
LỜI NÓI ĐẦU
SỰ TIẾN HÓA CỦA THỰC VẬT
1 Root - Rễ
2 Stem - Thân
3 Leaves - Lá
4 Reproductive parts of plants - Các bộ phận sinh sản của thực vật
5 Can one kind of tree produce the fruit of another kind of tree? - Một loại cây có thể tạo ra quả
của một loại cây khác hay không?
6 How Primitive Men Learnt to Grow Plants? - Con người nguyên thủy đã học cách trồng cây
như thế nào?
BACTERIA, LICHENS, ALGAE AND FUNGUS - VI KHUẨN, ĐỊA Y, TẢO VÀ NẤM
7 Bacteria - Vi khuẩn
8 Lichens - Địa y
9 Algae - Tảo
10 Fungus - Nấm
BRYOPHYTES - THỰC VẬT NGÀNH RÊU
11 Moss - Rêu
12 Ferns - Dương xỉ
13 Tree Ferns - Cây dương xỉ
14 Dicksonia Antarctica - Dương xỉ Dicksonia Antarctica
15 Liverworts - Rêu tản
16 Hornworts - Rong sừng
GYMNOSPERMS - THỰC VẬT HẠT TRẦN
17 Cycads - Thực vật nhóm mè
18 Gingko - Thực vật nhóm bạch quả
19 Conifers - Thực vật nhóm tùng bách
20 Douglas Fir - Linh sam Douglas
21 Scots pine - Thông Scốt-len
22 Giant Sequoia - Cự tùng khổng lồ
ANGIOSPERMS - THỰC VẬT HẠT KÍN
23 Some of the flowering plants and trees - Một số thực vật và cây thân mộc có hoa
24 Deciduous trees - Các cây rụng lá
POISONOUS, INSECTIVORES AND CARNIVORES - CÁC THỰC VẬT ĐỘC, THỰC VẬT ĂN CÔN
TRÙNG VÀ THỰC VẬT ĂN THỊT
25 Poisonous plants - Các thực vật độc
26 Insectivores and carnivores - Các thực vật ăn côn trùng và ăn thịt
STINKING AND STINGING PLANTS - THỰC VẬT CÓ MÙI HÔI VÀ THỰC VẬT CÓ GAI CHÍCH
27 Stinking plants - Thực vật có mùi hôi
28 Stinging plants - Thực vật có gai chích
CLIMBING PLANTS - THỰC VẬT LEO
29 Virginia Creeper - Cây leo Virginia
30 White Bryony - Cây leo Bryony trắng
31 English Ivy - Cây thường xuân Anh
32 Bindweed - Cây bìm bìm
WATER PLANTS - THỰC VẬT THUỶ SINH
33 Water Hyacinths - Lục bình
34 Giant Sea Kelp - Tảo bẹ khổng lồ
35 Water-Lily - Bông súng
36 Water Lettuce - Rau diếp nước
USEFUL PLANTS - THỰC VẬT CÓ ÍCH
37 Cotton - Cây bông vải
38 Rubber - Cây cao su
39 Cocoa - Cây ca cao
40 Tea - Cây trà
41 Cinchona - Cây canh-ki-na
42 Aloe Vera - Cây lô hội
43 Medicinal Plants - Các cây làm thuốc
44 Bamboo - Cây tre
45 Banana - Cây chuối
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
LỜI NÓI ĐẦU
Sách này trình bày dưới dạng song ngữ Anh - Việt những kiến thức căn bản về thế giới thực
vật nhằm giúp bạn đọc có điều kiện tiếp cận sự tiến hóa đầy kỳ diệu của vô số các loài thực
vật nảy mầm và tăng trưởng trên trái đất của chúng ta.
Các chủ điểm của sách thật đa dạng như: sự tiến hóa của thực vật, vi khuẩn, địa y, tảo và
nấm, thực vật ngành rêu, thực vật hạt trần và hạt kín v.v.
Cuối mỗi bài, sách có chú thích các cụm từ và mẫu câu nhằm giúp bạn đọc cũng cố vốn từ
vựng. Sách cũng có nhiều hình ảnh minh họa nhằm làm sáng tỏ và phong phú hóa một số
nội dung.
Ngoài ra, để luyện kỹ năng nghe hiểu cho bạn đọc, chúng tôi có kèm đĩa CD gồm các bài đọc
tiếng Anh, với nội dung được đọc chậm rãi để bạn đọc tiện theo dõi.
Hy vọng rằng với nội dung phong phú, bố cục mạch lạc, sách sẽ là nguồn tham khảo quý báu
cho bạn đọc.
Chúc các bạn thành công.
EVOLUTION OF PLANTS
SỰ TIẾN HÓA CỦA THỰC VẬT
Có hơn 250,000 loài thực vật, bao gồm rêu, dương xỉ, tùng bách, các thực vật có hoa, v.v.
Thực vật đã có trên trái đất từ rất lâu. Chúng đã xuất hiện lần đầu ở kỷ Ocdovic và
không giống như những thực vật ngày nay mãi cho đến cuối kỷ Silua. Trong Kỷ Đevon
gần 360 triệu năm trước đây, nhiều loại thực vật với hình dạng và kích thước khác
nhau đã xuất hiện, gồm cả những loài cây leo nhỏ li ti cho đến những cây cao.
(There are more than 250,000 species of plants which include mosses, ferns, conifers,
flowering plants etc. Plants have been there for a very long time. They first appeared in
the Ordovician period and didn't resemble modern plants till late in the Silurian period.
By the Devonian period nearly 360 million years ago, a large variety of plants with
different shapes and sizes appeared which included tiny creepers and tall trees.)
The first plants didn't grow on land but in water. They were like microscopic living
beings which reproduced by splitting up and gradually became more complex.
Flagellates were so tiny that they left no trace of their existence. It took many years for
the flagellates to develop into half plant and half animal, then separately into plants and
animal cells. According to the scientists plant life originated in the sea more than two
thousand million years ago.
Những thực vật đầu tiên không mọc trong đất mà trong nước. Chúng giống như những sinh
vật nhỏ li ti, sinh sản bằng cách chia tách và dần dần đã trở nên phức tạp hơn. Tảo đuôi roi
(flagellate) nhỏ đến nỗi không còn lưu lại dấu vết về sự hiện diện của chúng. Phải mất nhiều
năm để tảo đuôi roi phát triển thành một dạng nửa thực vật nửa động vật, sau đó dạng này
tách ra thành các tế bào thực vật và động vật. Theo các nhà khoa học, sự sống thực vật đã bắt
nguồn ở biển từ hơn hai tỉ năm trước đây.
During that period, the land was bare and without any sign of life. The first living beings took
nearly two and half thousand million years to develop into a plant form. Algae were the first
plants which spread all over the earth wherever it found water. It was during the Silurian
period that a great upheaval took place when the crust of the Earth lifted the seabed out of
water. Thus the sea plants had to adapt themselves to survive. For millions of years they
vegetated in water but slowly and gradually when the water basins dried up they found
themselves in contact with air so they changed their shape to suit to their surroundings.
Later, the evolution of plants progressed rapidly and within a span of 150 million years the
algae transformed into gigantic trees which formed the immense forests of the Carboniferous
period.
Trong thời kỳ này, đất đai còn trơ trụi và không có bất cứ dấu hiệu nào của sự sống. Những
sinh vật đầu tiên đã mất gần hai tỉ rưỡi năm để phát triển thành dạng thực vật. Tảo là những
thực vật đầu tiên lan rộng ra khắp trái đất ở bất cứ nơi nào có nước. Trong kỷ Silua, có một sự
xáo trộn lớn diễn ra khi lớp vỏ trái đất nâng đáy biển lên khỏi mặt nước. Do đó các thực vật
biển đã tự thích nghi để sống sót. Trong nhiều triệu năm, chúng đã sinh trưởng trong nước
nhưng chậm và dần dần khi các vùng nước khô đi, chúng tiếp xúc với không khí, do đó chúng
đã thay đổi hình dạng để thích nghi với môi trường xung quanh. Về sau, sự tiến hoá của các
thực vật diễn tiến nhanh và trong vòng 150 triệu năm, tảo đã chuyển hoá thành những cây
khổng lồ vốn tạo thành những khu rừng mênh mông trong kỷ Carbon.
The first plants that emerged from marine algae were incapable of making seeds to
reproduce. So, spores were carried along by the wind and when they fell on the ground they
produced gametophytes which got rooted in the soil and gave rise to egg cells and male cells,
which when united a new plant was born.
The spores needed damp ground and this type of plant could spread only in marshy regions
and lowlands filled with water while the drier places remained bare. Another type of complex
plants from another variety of plants, were Equiseta, ferns and Lycopodiales which soon
covered the earth in a dense forest.
Những thực vật đầu tiên xuất hiện từ tảo biển không có khả năng tạo hạt để sinh sản. Do đó,
các bào tử được gió mang đi và khi rơi xuống đất, chúng tạo ra những giao tử đâm rễ vào
trong đất và mọc ra những tế bào trứng và tế bào đực, những tế bào này kết hợp với nhau để
sinh ra một thực vật mới.
Các bào tử cần có nền đất ẩm và loại thực vật này chỉ phổ biến trong những vùng đầm lầy và
vùng đất thấp ngập nước trong khi những nơi khô hơn vẫn còn trơ trụi. Một kiểu thực vật
phức tạp khác từ những thứ thực vật khác là tháp bút (Equiseta), dương xỉ (fern) và thạch
tùng (Lycopodiale), nhanh chóng bao phủ mặt đất trong một khu rừng dày đặc.
Lycopodiale remains form most of the great coal beds of the earth Lycopodia and other
species thrived for a short period and then their trunks were blown down by storms and
gradually piled up and were changed to coal. The Equiset or horse tails can be seen even today
in sandy areas and barren lands. The horsetails are the last descendants of the calamites
which covered the entire forest in prehistoric times. Nearly twenty five species of horsetails
are found at present in every part of the earth except Southern Asia. These horsetails were
like gigantic trees which in the process of degeneration became smaller till it reached the
dwarf size that we see today.
Những tàn tích của thạch tùng đã tạo thành những vỉa than đá lớn nhất trên trái đất. Thạch
tùng và các loài thực vật khác đã sống sót qua một giai đoạn ngắn và sau đó thân cây bị gió
bão thổi đổ và dần dần tích tụ lại và biến đổi thành than đá. Cây tháp bút hay cây đuôi ngựa
(horse tail) ngày nay vẫn còn có thể thấy trong những vùng cát và những vùng đất trơ trụi.
Cây mộc tặc là hậu duệ cuối cùng của loài cây lô mộc (calamite) đã từng bao phủ toàn bộ rừng
trong thời kỳ tiền sử. Ngày nay, có gần hai mươi loài cây mộc tặc đã được phát hiện ở nhiều
nơi trên thế giới, chỉ trừ ở Nam Á. Những cây đuôi ngựa này giống như những cây khổng lồ
mà theo tiến trình thoái hoá đã trở nên nhỏ hơn cho đến khi đạt đến kích thước lùn nhỏ như
ta thấy ngày nay.
The climate during that period, when the algae transformed into land plants, was favourable;
it was quite pleasant climate for the growth of plants. The little plants gave rise to complex
vegetation like the Giant Sigillaria which were 23 metres high. The Gingko tree is the only
survivor of the ancient group of tree plants.
Flowers marked the last stage of evolution in the plant kingdom. They appeared nearly 100
million years ago. This was an important landmark in the evolution of plants. Thus the
swarms of pollinating insects soon invaded the land and gave the forests a new look where
mammals had remained hidden behind these plants for million of year.
Khí hậu trong thời kỳ đó khi tảo biến đổi thành các thực vật trên cạn, là rất thuận lợi; đó là
loại khí hậu rất thích hợp cho sự tăng trưởng của thực vật. Những thực vật nhỏ đã biến đổi
thành thứ thực vật phức tạp hơn như cây Sigillaria khổng lồ cao đến 23 m. Cây bạch quả
(gingko) là cây duy nhất còn sót lại trong nhóm các thực vật thân gỗ cổ xưa.
Hoa đã đánh dấu giai đoạn tiến hoá cuối cùng trong giới thực vật. Chúng xuất hiện gần 100
triệu năm trước đây. Đó là một dấu mốc quan trọng trong sự tiến hoá của thực vật. Theo đó,
những đàn côn trùng thụ phấn hoa đã nhanh chóng xâm lấn mặt đất và tạo cho những khu
rừng một cảnh quan mới nơi mà các động vật có vú đã ẩn mình sau những thực vật đó trong
nhiều triệu năm.
Plants are the only living things on the earth that can make their own food. Animals are
directly or indirectly dependent upon plants. A typical plant is made up of roots and shoots
which include stem, leaves and branches. The branches bear flowers and fruits.
Thực vật là những sinh vật duy nhất trên trái đất có thể tự tạo ra thức ăn cho mình. Động vật
phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào thực vật. Một thực vật tiêu biểu được tạo thành từ các
rễ và các chồi, bao gồm thân, lá và cành. Các cành mang hoa và quả.
1 Root
Roots provide support to the plant and enable it to hold onto the soil firmly. They help the
plants to absorb water and nutrients from the soil. The tips of the roots are protected by the
root cap and they are deeply rooted in the soil.
Rễ
Rễ tạo ra sự chống đỡ cho thực vật và giúp nó bám chắc vào trong đất. Rễ giúp cho thực vật
hấp thu nước và các dưỡng chất từ đất. Đầu mút của các rễ được bảo vệ bằng các chóp rễ và
chúng ăn sâu trong đất.
2 Stem
Some stems are tender while some are tough. The stem supports the branches and leaves, and
it provides all the ingredients to the plants to manufacture their food. Stems have a vascular
system which consists of two kinds of tissues- xylem and phloem which carry the necessary
roots food and water prepared by the leaves to other parts of the plant. Xylem is made from
dead woody material and it carries Plant water from the roots to the rest of the plant. Carbon
dioxide enters the plant through the stomata where photosynthesis takes place and oxygen is
released. The water evaporates through the individual cells below each stoma. Xylem helps in
transporting water and nutrients from the soil to the various parts of a plant. Phloem is more
complex than xylem as it consists of sieve tubes joined together from one end to another end.
It transports the carbohydrates made in leaves to every living cell in the plant through a
process known as translocation. Phloem cells are able to survive as they are sustained by
companion cells which lie between sieve tube elements. It has a nucleus and a number of
mitochondrias which produce cells energy. The outer wall of the plant cell consists of a
membrane which is selectively permeable. Substance leave and enter through active
transport system.
Thân
Một số thân thực vật mềm yếu trong khi một số khác lại dai chắc. Thân chống đỡ cho cành và
lá, và cung cấp tất cả các thành phần mà thực vật cần để sản xuất ra thức ăn của nó. Thân có
một hệ mạch nhựa bao gồm hai loại mô xylem và mô libe vận chuyển thức ăn và nước cần
thiết từ rễ, đã được các lá chuẩn bị, đến các phần khác còn lại của thực vật. Xylem được cấu
tạo từ chất liệu gỗ chết và nó vận chuyển nước từ rễ đến các phần còn lại của thực vật.
Carbon điôxit đi vào thực vật qua các khí khổng, là nơi mà sự quang hợp diễn ra và giải phóng
ra ôxi. Nước bốc hơi qua các tế bào riêng rẽ bên dưới từng khí khổng. Xylem giúp cho việc vận
chuyển nước và các dưỡng chất từ đất đến các phần khác nhau của thực vật. Mô libe phức
tạp hơn xylem vì nó gồm nhiều ống sàng được nối với nhau từ đầu ống này sang đầu ống kia.
Libe vận chuyển dioxcác carbon hydrát đã được sản xuất trong lá đến từng tế bào sống trong
thực vật thông qua một quá trình được gọi là sự chuyển vị. Các tế bào libe có thể sống sót vì
chúng được duy trì liên tục bởi các tế bào kèm theo nằm giữa các thành phần ống sàng. Tế
bào libe có một nhân và một số ti lạp thể tạo thành các tế bào năng lượng. Thành ngoài của tế
bào thực vật gồm một màng có tính thấm chọn lọc. Vật chất đi vào và đi ra thông qua hệ
thống vận chuyển tích cực.
3 Leaves
Leaves are the green parts of a plant. They are made up of numerous tiny packets known as
cells. The leaf is attached to the plant by a stalk or a petiole, and through the mid part of a leaf
run veins which not only support the leaf but also carry water and nutrients to all the cells of
the leaf. A leaf is made up of two parts- an epidermis and a mesophyll. The epidermis is the
outer layer found on the upper and lower surfaces of a leaf while the mesophyll and
parenchyma lie between these surfaces. The leaves help the plant to make its food through
the process of photosynthesis. The leaves absorb carbon dioxcaùcide from the atmosphere
and roots absorb water and nutrients from the soil; the stem carries the water and nutrients
to the leaves, here with the help of sunlight chlorophyll (a green pigment in the cells of leaves)
converts carbon dioxide and water to produce glucose and release oxygen as a waste product.
Lá
Lá là những phần màu lục của thực vật. Chúng được tạo thành từ nhiều gói nhỏ gọi là các tế
bào. Lá gắn vào thực vật bằng cọng hay cuống lá và có những gân lá chạy qua phần giữa của
lá. Gân không chỉ để nâng đỡ lá mà còn vận chuyển nước và các dưỡng chất đến tất cả các tế
bào của lá. Lá được cấu tạo từ hai phần – một lớp biểu bì và phần thịt lá. Biểu bì là lớp bên
ngoài ở các bề mặt bên trên và bên dưới của lá, trong khi thịt lá là nhu mô nằm giữa các bề
mặt đó. Lá giúp cho thực vật sản xuất thức ăn của nó thông qua một quá trình gọi là sự quang
hợp. Các lá hấp thu nước và các dưỡng chất từ đất; thân vận chuyển nước và các dưỡng chất
đến lá; ở đó, với sự hỗ trợ của ánh sáng mặt trời, chất diệp lục (sắc tố màu lục trong các tế
bào lá) biến đổi carbon điôxit và nước để tạo ra glucose và giải phóng ôxy như một sản phẩm
thải.
4 Reproductive parts of plants
It is the flowers which carry out the function of reproduction in plants. The female part of a
flower is known as carpel and the male part is known as stamen. A yellow coloured dust
known as pollen is produced by the stamen, while female cells (ovules) are produced by the
carpel. The pollen grains get carried to the female part by the wind, birds, animals and insects.
The entire process is referred to as pollination. The pollen grain in the ovules fertilises and it
develops into seeds. A seed is a reproductive part which has the embryo plant and the stored
food for the plant. Not all seeds grow into new plants; only when the conditions are suitable
and they are not destroyed by animals, in-sects or birds do they sprout into new plants. Some
of the plants grow through vegetative propagation like radish, carrot, onion, potato etc. The
vegetative propagation is a way by which some plants can survive the winters. The part of the
plant above the ground dies but it remains alive in the form of a corn bulb, tuber or rhizome.
Các bộ phận sinh sản của thực vật
Hoa thực hiện chức năng sinh sản trong thực vật. Phần cái của một hoa được gọi là lá noãn
và phần đực được gọi là nhị hoa. Một thứ bụi màu vàng được gọi là phấn hoa được nhị hoa
tạo ra, trong khi các tế bào cái (các noãn) được lá noãn tạo ra. Các hạt phấn hoa được mang
đến phần cái bởi gió, chim, các động vật và côn trùng. Toàn bộ quá trình được gọi là sự thụ
phấn. Hạt phấn hoa trong các noãn thụ phấn và phát triển thành các hạt giống. Hạt giống là
bộ phận sinh sản có chứa phôi thực vật và thức ăn dự trữ cho thực vật. Không phải tất cả các
hạt giống đều mọc thành cây; chỉ khi có những điều kiện thích hợp và không bị hủy hoại bởi
các động vật, côn trùng hay chim thì chúng mới nẩy mầm thành một thực vật mới. Một số
thực vật phát triển bằng sự nhân giống sinh dưỡng như cây củ cải, cà rốt, hành, khoai tây, v.v.
Nhân giống sinh dưỡng là phương thức mà qua đó một số thực vật có thể sống sót qua mùa
đông. Phần thực vật ở bên trên mặt đất chết đi nhưng thực vật vẫn còn sống ở dạng một củ,
thân hay thân rễ.
Another important contribution of plants is that they shape the environment. They are found
everywhere from the tundra to the rainforests, to the deserts and everywhere except the
arctic wastelands. It is the plant which maintains the terrestrial environment.
Scientists have divided plants into
- Algae
- Mosses and liverworts
- Ferns
- Bryophytes
- Pteridophytes
- Angiosperms
- Gymnosperms
We will discuss them further in this book.
Gradually botanists came to know about more and more plants and they grouped these plants
into various groups. Carolus Linnaeus (1707-78) a Swedish naturalist was the first scientist
to group plants according to the number and type of stamens and pistils on their flowers.
Linnaeus system gave each plant two names, the first one indicated the genus or the family
while the second one indicated the species or a particular member of the family. After some
years this classification was replaced by a more accurate one.
Một sự đóng góp quan trọng khác của các thực vật là chúng tạo nên môi trường. Thực vật có
ở khắp mọi nơi, từ các lãnh nguyên cho đến các rừng mưa nhiệt đới, các sa mạc và bất cứ nơi
nào, chỉ trừ những miền địa cực hoang vu. Chính thực vật đã duy trì môi trường sống trên mặt
đất.
Các nhà khoa học đã phân chia thực vật thành
- Tảo
- Rêu và rêu tản
- Dương xỉ
- Thực vật hạt trần
- Thực vật ngành rêu
- Thực vật không hoa
- Thực vật hạt kín
Chúng ta sẽ bàn kỹ hơn về chúng trong sách này.
Dần dần các nhà thực vật học biết được ngày càng nhiều thứ thực vật hơn và họ đã nhóm
những thực vật này thành nhiều nhóm khác nhau. Nhà tự nhiên học người Thụy Điển Carolus
Linnaeus (1707 -78) là nhà khoa học đầu tiên nhóm các thực vật theo số lượng và loại lá noãn
và nhụy hoa trên hoa của chúng. Hệ thống của Linnaeus gán cho mỗi thực vật hai tên, tên thứ
nhất để chỉ giống hay họ thực vật trong khi tên thứ hai để chỉ loài hay một thành viên cụ thể
trong họ. Sau vài năm, cách phân loại này đã được thay thế bởi một cách phân loại chính xác
hơn.
5 Can one kind of tree produce the fruit of another
kind of tree?
Yes, by the simple method of grafting, which is a technique of attaching the part of one plant
to another. There are many techniques of grafting from inserting a single bud under the bark
to grafting long twigs across the wound of a tree so that it heals the wounds on the bark.
Grafting helps produce better quality fruits.
Một loại cây có thể tạo ra quả của một loại cây
khác hay không?
Có, bằng phương pháp ghép đơn giản, là một kỹ thuật để gắn một phần của một thực vật vào
thực vật khác. Có nhiều kỹ thuật ghép cây: từ việc chèn một chồi đơn vào bên dưới vỏ cây cho
đến ghép các nhánh dài qua vết thương của một cây để làm lành lặn các vết thương trên vỏ
cây.
Việc ghép cây cho ra những quả có chất lượng tốt hơn.
6 How Primitive Men Learnt to Grow Plants?
The primitive men living on the Earth did not know how to grow plants. Thus they spent the
entire day hunting or gathering fruit and seeds which ripened naturally in the forests. During
summer season plenty of fruits and seeds were available while during winter there were
plants which had no fruits. Later on, man discovered that there were other plants which can
save him from starvation. These were woodland plants with dry fruits which didn't wither
away in winter e.g. hazel trees, chestnuts, oak and walnuts. Many of these types of trees have
been found in the lake settlements which revealed that these fruits were important for
primitive man. During early times the cave dwellers only gathered barley and wheat which
grew in the forests. As these foods could be kept for longer duration, they took these cereals
along with them while wandering through the woods, but before proceeding for a journey
they always scattered a few grains to impress the almighty. After winter when they went back
to the places where they had stayed earlier they were astonished to see that the grains had
risen into new plants. Thus they learnt how to grow new plants. Thus cultivation of corn
started.
Con người nguyên thủy đã học cách trồng cây như
thế nào?
Những người nguyên thuỷ sinh sống trên trái đất không biết cách trồng cây. Do đó họ đã bỏ ra
cả ngày để săn bắt hay hái lượm quả hay hạt chín tự nhiên trong những khu rừng. Vào mùa
hè có nhiều quả và hạt trong khi vào mùa đông, các thực vật không có quả. Về sau, con người
đã phát hiện ra rằng có những thứ thực vật khác có thể giúp cho họ khỏi bị đói. Đó là những
thực vật mọc trong rừng có quả khô không bị héo quắt vào mùa đông chẳng hạn như là hạt
phỉ, hạt dẻ, sồi và hạt óc chó. Nhiều loại cây này đã được tìm thấy trong những vùng định cư
bên hồ, cho thấy rằng những thứ quả này là quan trọng đối với con người nguyên thủy. Trong
những thời kỳ đầu, người sống trong hang chỉ có thể hái lượm lúa mạch và lúa mì mọc trong
rừng. Vì những thực phẩm này có thể được lưu giữ trong thời gian dài, họ đã mang theo các
hạt ngũ cốc này bên mình khi đi lang thang qua những khu rừng, nhưng trước khi bắt đầu
một chuyến đi, họ thường vung vãi một ít hạt để nhớ ơn Thượng đế. Sau mùa đông, khi họ
quay về nơi chốn cư trú trước đó, họ ngạc nhiên vì thấy các hạt ngũ cốc đã mọc lên thành
những cây mới. Từ đó họ đã học được cách trồng những cây mới. Việc trồng trọt hoa màu đã
bắt đầu từ đó.
INTERESTING FACT
Sự kiện đáng chú ý
The art of bonsai - Bonsai is the art of keeping a tree to a dwarf size. This art
originated in China nearly 1000 years ago but was made popular by the Japanese.
Bonsai is a Japanese word meaning 'tray plantation'. Bonsai pots are usually earthen
ware.
Nghệ thuật bonsai
– Bonsai là nghệ thuật nuôi giữ cây với một kích thước thu nhỏ. Nghệ thuật này có nguồn gốc
từ Trung quốc gần 1000 năm trước đây, nhưng đã trở nên phổ biến ở Nhật. Bonsai là một từ
tiếng Nhật có nghĩa là “trồng trong khay”. Những chậu Bonsai thường là chậu bằng đất nung.
CHÚ THÍCH TỪ VỰNG
Tiny creepers:những loài cây leo nhỏ li ti
Flagellate:tảo đuôi roi
Plants and animal cells:tế bào thực vật và
động vật
Algae:tảo
Marshy regions:những vùng đầm lầy
Equiset:cây tháp bút
Gingko tree:cây bạch quả
Stomata:khí khổng
Photosynthesis:sự quang hợp
Translocation:sự chuyển vị
Mitochondrias:ti lạp thể
Pollination:sự thụ phấn
Techniques of grafting:kỹ thuật ghép cây
BACTERIA, LICHENS, ALGAE, AND FUNGUS
VI KHUẨN, ĐỊA Y, TẢO VÀ NẤM
7 Bacteria
Bacteria are minute organisms and the lowest members of the plant kingdom. They are nearly
0.0001 millimeters in diameter. Some of them are so small that they cannot be seen without
the help of a microscope. Bacteria has no membrane with an enclosed nucleus mitochondria
or chloroplasts. It has a single chromosome. Bacteria is usually found in one of the three
shapes
- coci -the ball shaped
- bacilli -the rod shaped
- spirilla - the cork screw
Under favourable conditions, they reproduce by splitting into two. Bacteria are single-cell
organisms which bring about decay in dead plants and animals and break them into simple
compounds. Bacteria are found everywhere, even in our bodies and it cannot be seen with the
naked eye. Certain bacteria are very useful as they cause fermentation and help the milk to
curdle.
They combine with nitrogen and other elements to make some useful com-pounds for plants.
Vinegar and certain antibiotics are also prepared from bacteria. Thus we see that they are
both useful as well as harmful to us.
Vi khuẩn
Vi khuẩn là những sinh vật nhỏ và là những thành viên bậc thấp nhất trong giới thực vật. Vi
khuẩn có đường kính khoảng 0.0001 milimét. Một số loại vi khuẩn nhỏ đến mức chỉ có thể
nhìn thấy chúng qua kính hiển vi. Vi khuẩn không có màng tế bào với một nhân ti lạp thể hay
lạp lục đóng kín. Nó có một nhiễm sắc thể đơn. Vi khuẩn thường được thấy ở một trong ba
dạng:
- Cầu khuẩn (coci) – dạng hình cầu
- Trực khuẩn (bacilli) – dạng hình que
- Xoắn khuẩn (sourilla) – dạng hình xoắn
Trong những điều kiện thuận lợi, chúng sinh sản bằng cách chia tách thành hai. Vi khuẩn là
những sinh vật đơn bào gây thối rữa và làm chết các thực vật và động vật rồi phân cắt chúng
thành những hợp chất đơn giản. Vi khuẩn có ở khắp mọi nơi, ngay cả trong cơ thể của chúng
ta và nó không thể được nhìn thấy được bằng mắt thường. Một số loại vi khuẩn rất có ích vì
chúng gây ra sự lên men và giúp làm đông sữa.
Vi khuẩn kết hợp với nitơ và các nguyên tố khác để tạo ra một số hợp chất hữu ích cho các
thực vật. Giấm và một số kháng sinh cũng được điều chế ra từ vi khuẩn. Do đó, ta thấy rằng vi
khuẩn vừa có ích vừa có hại cho chúng ta.
8 Lichens
Lichens are unusual creations as they are not a single organism but a combination of algae
and fungus. They live together, the algae is enclosed inside a fungus. Since algae has
chlorophyll, with the help of sunlight it is able to make its food which is used even by fungus.
The fungus provides anchorage to algae so that it easily absorbs the nutrients and water.
Lichens mostly live on rocks, walls and trunks of the tree. This partnership of fungus and algae
is known as symbiosis.
Địa y
Địa y là những tạo vật khác thường vì chúng không phải là một sinh vật riêng biệt mà là một
tổ hợp của tảo và nấm. Chúng sống cùng nhau, tảo được bao bọc bên trong nấm. Vì tảo có
diệp lục tố, với sự hỗ trợ của ánh nắng mặt trời nó có thể sản xuất ra thức ăn cho cả nấm sử
dụng. Nấm cung ứng nơi neo đậu cho tảo để tảo có thể hấp thu dễ dàng các dưỡng chất và
nước. Địa y sống chủ yếu ở trên đá, trên các bức tường và các khúc cây. Sự cộng tác giữa nấm
và tảo được gọi là sự cộng sinh.
9 Algae
Algae are a diverse group of primarly aquatic plant like organisms which were previously
classified as a primitive subkingdom of the plant kingdom called the 'thallophytes'. But at
present they have been classified into another major group known as 'eukarya' which
includes animals and the higher plants. Algae have chlorophyll and can manufacture their own
food through photosynthesis. They are found in polluted water, in seas, rivers and lakes, on
soils and walls, in animals and plants; in fact everywhere. The simplest algae are single cells.
The more complex one co-sists of many cells grouped in a colony which is spherical in shape,
e.g. Volvox.
Seaweeds are algae that are found in the sea or brackish water. Seaweeds are of three basic
colours- red, brown and green. Most seaweeds remain submerged under the sea but during
the low tides they are exposed to the sun. Seaweeds use the energy of sun to carry on the
process of photosynthesis which helps them to oxygenate the water.
Algae are usually fish food, and they also supply oxygen to water through photosynthesis.
Tảo
Tảo là một nhóm đa dạng các thực vật chủ yếu sống ở nước như những sinh vật vốn trước đây
được phân loại thành một giới phụ gọi là “ thực vật có tản” (thallophytes). Nhưng hiện nay,
chúng được phân loại vào nhóm chính gọi là “eukarya” gồm các động vật và thực vật bậc cao
hơn. Tảo có diệp lục tố và có thể tự sản xuất ra thức ăn cho mình thông qua sự quang hợp.
Tảo được tìm thấy trong nước bị ô nhiễm, trong biển, sông và hồ, trên đất, trên các bức tường,
trong các động vật và thực vật; trong thực tế là ở khắp mọi nơi. Loại tảo đơn giản nhất là tảo
đơn bào. Những loại tảo phức tạp hơn gồm nhiều tế bào được nhóm lại ...
 





