Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Những Câu Chuyện Khoa Học Kích Thích Trí Sáng Tạo

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Huy Lượng
Ngày gửi: 17h:46' 01-07-2025
Dung lượng: 826.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Huy Lượng
Ngày gửi: 17h:46' 01-07-2025
Dung lượng: 826.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Những Câu Chuyện Khoa Học Kích Thích Trí Sáng Tạo
Đăng Khoa
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
NỘI DUNG CHỦ YẾUVÀ CÁCH SỬ DỤNG SÁCH:
TRUYỆN KỂ
Nội dung câu chuyện có tính chất gợi mở và gây hứng thú đối với trẻ em, phù hợp với tâm lí
của các em. Các em có thể thông qua đó để học làm theo hoặc sáng tạo những ý tưởng mới.
KẾT NỐI TRI THỨC
Giúp các em hiểu biết thêm những tri thức liên quan đến nội dung truyện kể, mở rộng tầm hiểu
biết của các em.
GÓC VUI SÁNG TẠO
Cung cấp những câu đố vui rèn luyện trí thông minh.
RÈN LUYỆN SÁNG TẠO
Hướng dẫn các em tập làm những thí nghiệm vui.
TÌM TÒI VÀ SUY NGẪM
Chứa đựng những thông tin gợi mở, mang tính hướng đạo, giúp các em có thể tự tìm tòi, chủ
động học tập, tư duy.
CÂU HỎI DÀNH CHO BỐ MẸ
Giúp các bậc phụ huynh biết cách phát huy tính tích cực chủ động của con cái, tạo không khí
cùng hoạt động giữa bố mẹ và con cái.
ĐI TÌM LỜI GIẢI ĐÁP
Giúp trẻ em tăng cường việc tích luỹ tri thức qua quá trình đọc sách, khích lệ lòng tự tin, tinh
thần chủ động của các em trong học tập.
KHẢ NĂNG SÁNG TẠO THẦN KỲNẮM BẮT CƠ
HỘI SÁNG TẠO
CHUYẾN ĐI BIỂN TRÊN CON TÀU BEAGLE
Mọi người chắc hẳn đều đã từng biết đến những câu chuyện về cha đẻ của “thuyết tiến hóa” nhà bác học Darwin. Thế nhưng các bạn có biết không? Người sau này trở thành nhà khoa học
vĩ đại, được cả thế giới biết đến và ca tụng lại có một thời niên thiếu chỉ biết “câu cá, hái hoa
bắt bướm và nghịch ngợm”. Khi Darwin còn nhỏ, ngay người cha của cậu cũng phải thừa nhận,
ông chẳng tin tưởng Darwin rồi có thể làm nên trò trống gì, có lẽ rồi chỉ làm hổ danh truyền
thống gia đình mà thôi.
Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, Darwin chỉ ở nhà suốt ngày rong chơi. Điều này khiến
người cha vừa lo lắng vừa bực giận. Chính lúc ấy, một thầy giáo của Darwin đã gửi đến một bức
thư. Trong thư viết rằng: Bộ Hải quân đang xúc tiến một chuyến đi biển dài ngày tới Nam Mĩ
khảo sát khoa học và thầy giáo khuyên Darwin nên đi theo đoàn khảo sát, nhân cơ hội để mở
rộng tầm hiểu biết.
Nhận được tin này, Darwin vô cùng sung sướng và háo hức. Cậu đã tìm đủ mọi cách để thuyết
phục bằng được cha mình đồng ý cho cậu đi theo con tàu mang tên Beagle của Bộ Hải quân
Hoàng gia Anh. Từ đây, Darwin bắt đầu công việc nghiên cứu khoa học trong suốt gần 5 năm đi
theo hành trình của con tàu Beagle. Đi theo Beagle, dù đến bất cứ đâu, chỉ cần gặp một sự việc
mới lạ là Darwin lại cẩn thận ghi chép lại. Đặc biệt, Darwin rất chú ý đến những tập quán sống
và tình hình sinh trưởng muôn màu muôn vẻ của các loài động thực vật. Đương nhiên, chàng
thanh niên Darwin khi đó, cũng như tất cả người đương thời, đều tin rằng vạn vật trong thế
giới đều do Thượng đế sáng tạo ra.
Cho đến một ngày, trong khi khai quật ở một vùng đất mà con tàu Beagle ghé qua, Darwin đã
phát hiện thấy mẫu hoá thạch mà còn nguyên vẹn của một con thú răng kiếm. Darwin rất thích
mẫu hoá thạch mà anh tìm được, bởi vì so với các động vật ngày nay, con thú này có phần
mình giống voi, răng giống thỏ, mắt, mũi, tai lại giống con lợn biển. Điều thú vị là ngày nay, voi,
thỏ hay lợn biển đều không thuộc cùng một chủng loài. Vì sao trước đây những con vật này lại
có thể “hợp làm một” như vậy. Và thế là Darwin cứ ngồi lì dưới hố khai quật, hai tay bưng mẫu
hoá thạch tìm được, xem qua xem lại không hết tò mò. Bỗng nhiên, Darwin thừ người ra, phải
một lúc rất lâu sau đó mới thốt ra lời. Nhìn vào mẫu hoá thạch mà như còn chưa hết kinh ngạc,
Darwin nghĩ thầm: “Thượng đế, có lẽ nào vạn vật vốn đều không phải do Người sáng tạo ra hay
sao?”.
Cũng từ đó, cái nghi vấn ấy cứ ngày càng lớn dần trong tâm trí Darwin. Ba năm sau, Darwin lại
được chứng kiến một hiện tượng lạ lùng khác của thế giới sinh vật. Đó là một loài rùa biển.
Chúng sinh sống trên một hòn đảo khan hiếm nước ngọt, vì thế chúng phải tích trữ rất nhiều
nước trong cơ thể. Điểm này rất khác với những loài rùa thông thường. Vậy là, cùng một loài
rùa như nhau mà sao những con rùa sống trên đảo lại có thể trữ nhiều nước vào trong cơ thể
của chúng? Chẳng phải là vì hoàn cảnh khan hiếm nước trên đảo đã buộc những con rùa phải
tích nhiều nước trong cơ thể mình hay sao? Vì thế, Darwin lại ngày càng nghi ngờ cái điều mà
cả thế giới lúc đó vẫn tin tưởng rằng: “Vạn vật trên đời này đều do Thượng đế sáng tạo ra”. Có
thể nói nếu rời đất liền bước chân lên tàu Beagle là xuất phát từ tò mò và hiếu kì thì đến lúc
này, chàng Darwin trẻ tuổi đã thực sự bắt đầu có ý thức tìm kiếm một hệ quy luật khoa học tự
nhiên còn ẩn tàng dưới những mẫu vật và trong cái thế giới sinh vật rộng lớn ngoài kia.
Thế là từ một cậu bé ham chơi, “việc gì đụng vào là hỏng việc ấy”, qua gần 5 năm đi sưu tầm
khảo sát và nghiên cứu, Darwin không chỉ tự thay đổi bản thân mà còn dần hình thành những
tư tưởng đầu tiên cho “thuyết Tiến hoá" nổi tiếng sau này. Nhìn thấy những thay đổi to lớn của
con trai sau khi trở về từ chuyến đi biển đường dài theo con tàu Beagle, người cha vừa mừng
vui vừa không khỏi ngỡ ngàng: “Trời, lẽ nào đây lại chính là thằng con vô công rồi nghề của tôi
hay sao?”. Hơn lúc nào hết, ông hiểu rằng đứa con trai từng làm ông thất vọng trước đây không
còn nữa, Darwin - con rồi đây nhất định sẽ làm nên sự nghiệp, nhất định sẽ làm rạng danh
truyền thống gia đình.
Có thể nói, chính chuyến đi cùng tàu Beagle đã tạo điều kiện tốt nhất để Darwin “sáng tạo”,
không chỉ là tạo nên một bước ngoặt trong cuộc đời mình mà còn đưa tới một trang sử mới
cho cả thế giới khoa học.
Kết nối tri thức
Darwin là nhà khoa học, nhà sinh vật học vĩ đại người Anh thế kỉ XIX. Qua nghiên cứu trong
nhiều năm, ông đã xây dựng hoàn chỉnh học thuyết lí luận về sự tiến hoá của sinh vật. Ông để lại
tác phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc các loài”, trong đó trình bày học thuyết tư tưởng của ông về “tiến
hoá”. Học thuyết tiến hoá của sinh vật đã hoàn toàn lật đổ quan niệm sai lầm từng thống trị dai
dẳng cho rằng: “Thượng đế sáng tạo ra muôn loài”.
Tìm tòi và suy ngẫm
Bạn có phải là một cậu bé hay một cô bé thích đi chơi không? Bố mẹ bạn có bao giờ nói với bạn
như Darwin - cha nói với Darwin - con rằng: “Con suốt ngày chỉ biết lo chơi thôi”? Bạn nghĩ thế
nào về sự thay đổi của Darwin?.
Bạn có biết nội dung chủ yếu “Học thuyết Tiến hoá” của Darwin là gì không?
TỪ KIẾN TRÚC SƯ TRỞ THÀNH NHÀ HOÁ HỌC
Kekulé là nhà hoá học nổi tiếng trong lịch sử hoá học thế giới cận đại. Ông sinh ra ở Đức. Khi
còn nhỏ, Kekulé tỏ ra có năng khiếu vượt trội về kiến trúc. Lúc ấy, trong thành phố, người ta
vừa xây dựng xong ba toà nhà cao tầng. Những người đến thăm quan khu nhà mới đều không
ngớt thán phục và họ càng kinh ngạc hơn khi biết, cả ba toà nhà đều được xây dựng theo bản
thiết kế của một cậu bé học sinh trung học - cậu bé Kekulé.
Nhưng rồi một cơ hội tình cờ đến với Kekulé, khi anh gặp nhà hoá học nổi tiếng Liebig, đánh
dấu bước chuyển biến quan trọng của Kekulé sang lĩnh vực hoá học.
Lúc ấy, Liebig là một nhà hoá học danh tiếng. Khi nghe tin nhà hoá học Liebig chuẩn bị có bài
giảng trong trường, xuất phát từ sự tò mò, Kekulé đã tìm đến nghe giảng. Bài giảng của thầy
Liebig rất sống động, mạch lạc và dễ hiểu. Những chứng minh và giải thích về một vài thí
nghiệm lí thú ngay lập tức lôi cuốn Kekulé. Trở về kí túc xá, Kekulé luôn suy nghĩ về môn hoá
học đầy hấp dẫn, về những thí nghiệm sống động của thầy Liebig. Cuối cùng, anh quyết định
chuyển sang theo học ngành Hoá học.
Quyết định của Kekulé lập tức vấp phải sự phản đối của gia đình. Mẹ anh nói: “Tại sao con vứt
bỏ ngành kiến trúc danh giá và xán lạn để đi theo học hoá học gì gì đấy?”. Nhưng Kekulé nhất
quyết đi theo sự lựa chọn của mình: “Con có niềm tin. Con tin rằng tương lai của con là hoá
học, nghiên cứu hoá học mới thực sự là công việc của cuộc đời con”.
Sau đó, Kekulé chuyển sang học ở một Học viện Kĩ thuật công nghệ. Sau khi vào trường không
lâu, nhờ sự chỉ dẫn của một thầy giáo giỏi, Kekulé đã thực hiện nhiều thí nghiệm hoá học và rất
mau chóng nắm vững các phương pháp nghiên cứu khác nhau. Gia đình Kekulé không có cách
gì lay chuyển được lòng quyết tâm theo học hoá học của anh, cuối cùng đành chấp nhận sự lựa
chọn này. Không lâu sau, Kekulé đến tìm thầy Liebig và xin được theo học. Thầy Liebig vô cùng
cảm động trước ý chí và lòng quyết tâm của sinh viên Kekulé. Từ lúc này, dưới sự chỉ dẫn tận
tình của thầy Liebig, Kekulé bắt đầu bước vào con đường nghiên cứu hoá học không ít gian khổ
nhưng vinh quang.
Để tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn, Kekulé đã sang Paris du học theo con đường tự túc.
Vì học phí du học rất tốn kém nên suốt thời gian học tập tại Paris, Kekulé phải sống trong điều
kiện hết sức vất vả. Nhưng với lòng quyết tâm và nghị lực phi thường, cuộc sống càng vất vả thì
Kekulé càng dốc chí học hành. Một hôm, Kekulé tình cờ đọc được thông báo trên bảng tin của
nhà trường về việc một tiến sĩ hoá học hữu cơ nổi tiếng của Pháp đang có bài thuyết giảng tại
trường. Kekulé vội vã chạy tới để kịp buổi nghe giảng. Sau khi nghe giảng, Kekulé đã đặt ra
nhiều câu hỏi khá phức tạp khiến cho bản thân vị tiến sĩ diễn giảng ngày hôm đó cùng nhiều
chuyên gia có mặt tại giảng đường đều phải kinh ngạc.
Với ý chí, quyết tâm học tập và những cố gắng không mệt mỏi, sau này Kekulé trở thành một
nhà hoá học vĩ đại của thế giới, người đã đề xuất nhiều mệnh đề quan trọng trong nghiên cứu
hoá học.
Tìm tòi và suy ngẫm
Bạn có biết “hoá học” là gì không? “Hoá học” nghe chừng có vẻ như rất khó hiểu và xa lạ.
Nhưng biết đâu sau này, bạn cũng tình cờ gặp được một thầy giáo giỏi như thầy Liebig và rồi
bạn cũng sẽ thấy “hoá học” là một khoa học thật tuyệt vời và nhiều ý nghĩa.
Đã bao giờ có ai hỏi bạn rằng: “Lớn lên bạn thích làm gì chưa?” Bạn có muốn mơ ước trở thành
một nhà khoa học như không ít bạn nhỏ khác đã mơ ước? Và nếu như thế, tại sao bạn không
nghĩ rằng lớn lên mình cũng sẽ thành một nhà khoa học?
SỰ THAY ĐỔI CỦA MORSE
Nhà phát minh ra máy điện báo Morse từng là một hoạ sĩ và là một hoạ sĩ có tiếng trong giới
mĩ thuật Hoa Kì với những bức tranh phong cảnh. Con đường nghệ thuật đang rộng mở và
Morse cũng tập trung tất cả cho sự nghiệp hội hoạ của ông. Thế nhưng, một chuyện tình cờ đến
với Morse khi ông ở tuổi 41 - một bước ngoặt trong cuộc đời ông.
Mùa thu năm ấy, khi Morse đi trên chuyến tàu thuỷ trở về Mĩ, ông nhìn thấy một thanh niên
đang diễn những trò ảo thuật. Người thanh niên nọ bày trên mặt bàn một khối sắt hình chữ U,
phía trên chằng chịt những sợi dây đồng được quấn lớp cách điện, bên cạnh để pin và ghim sắt.
Màn biểu diễn ảo thuật bắt đầu. Người thanh niên cho điện chạy qua dây đồng, lúc ấy, khối sắt
hình chữ U dường như xuất hiện một lực vô hình hút lấy những cái ghim sắt. Sau đó, người
thanh niên cho ngắt nguồn điện, lập tức những chiếc ghim sắt dính trên thanh sắt hình chữ U
liền rơi xuống, cái lực hút vô hình kia đã biến mất. Để tăng thêm phần hấp dẫn cho màn biểu
diễn, “nhà ảo thuật” trẻ tuổi thuyết minh thêm: “Đây chính là hiệu ứng từ của dòng diện. Khi
dòng điện chạy qua ống dây đồng, “điện” chuyển hoá thành “từ” làm cho thanh sắt hình chữ U
sản sinh ra từ tính, nhờ đó, thanh sắt này có thể hút được những cái ghim sắt... Thời đại của
những ứng dụng năng lượng điện đã đến. Điện có năng lượng vô cùng lớn, có thể truyền đi với
tốc độ rất nhanh. Nếu cố gắng nghiên cứu, nhất định một ngày nào đó, chúng ta có thể dùng
điện để truyền đi thông tin...”.
Những lời thuyết minh của “nhà ảo thuật” trẻ tuổi đã tác động mạnh tới Morse. Ông lại nghĩ
đến những phiền hà của việc tin tức bị gián đoạn do sự lạc hậu của các máy truyền tin bấy giờ.
Thế là từ đó bắt đầu hé lộ trong Morse ý tưởng phát minh mới về thông tin liên lạc.
Trở về nhà, ông treo bút vẽ, dành toàn bộ thời gian và tâm sức để tìm tòi, nghiên cứu và chế
tạo máy điện báo. Dĩ nhiên là Morse chưa từng có một kiến thức căn bản nào về môn Điện học
và với ông, tất cả phải bắt đầu từ con số không. Ông đi thu thập từ khắp nơi những sách vở nói
về “điện”. Ông đọc từ cuốn này sang cuốn khác, vừa đọc vừa ghi lại những điều tâm đắc. Với
tinh thần học tập và những cố gắng không mệt mỏi, trong một thời gian ngắn, Morse đã nắm
được những lí luận căn bản của môn Điện Từ học. Ông biến xưởng vẽ trước kia thành một
phòng thí nghiệm và dành tất cả thời gian làm việc với những thanh nam châm, những sợi dây
điện. Hết thí nghiệm này lại đến thí nghiệm khác, không biết đã có bao nhiêu thí nghiệm bị
thất bại. Những thí nghiệm không chỉ lấy đi của Morse thời gian và sức lực, chúng cũng tiêu tốn
của ông rất nhiều tiền bạc. Cuộc sống của Morse ngày càng chật vật hơn.
Thế nhưng, Morse không một phút nản lòng. Ông đã có nhiều kiến thức về Điện học, nắm vững
nhiều phương pháp chế tạo kĩ thuật. Quyết tâm sáng chế ra máy điện báo vẫn không ngừng
thúc giục trong ông. Một hôm, khi cho dòng điện chạy vào, ông nhận thấy các tia lửa điện tạo ra
những tiếng “lách tách”. Ông miên man trong suy nghĩ và đầu óc tràn ngập những ý tưởng mới
mẻ. Đột nhiên, ông như người vừa choàng tỉnh giấc: có tia lửa điện phát ra là một loại tín hiệu,
không có tia lửa điện phát ra cũng là một tín hiệu, khi không có tia lửa điện phát ra một quãng
thời gian dài thì đó cũng lại là một tín hiệu. Vẫn là ba loại tín hiệu này nhưng lại có thể có rất
nhiều kiểu kết hợp khác nhau giữa chúng và mỗi một kiểu kết hợp khác nhau đó có thể biểu
trưng cho một con số hoặc một chữ cái. Như vậy là chỉ cần dùng một sợi dây điện, bằng cách
cho dòng điện chạy qua hoặc ngắt dòng điện, chúng ta có thể truyền được tin tức.
Từ hướng suy nghĩ này, Morse tiếp tục nghiên cứu, vượt qua rất nhiều khó khăn. Cho đến năm
46 tuổi, ông chế tạo thành công chiếc máy điện báo truyền phát tín hiệu đầu tiên trên thế giới.
Thế là những tưởng tượng về máy điện báo của Morse đã trở thành hiện thực.
Tìm tòi và suy ngẫm
Sau này lớn lên bạn muốn làm gì? Bạn có hiểu vì sao Morse bỏ sự nghiệp hội hoạ đang rất có
triển vọng của mình để quay sang môn Điện học - môn học mà ban đầu ông còn chưa có một
chút hiểu biết nào hết?
Khi ở với bố mẹ hoặc lúc cùng chơi với các bạn khác, đã lúc nào bạn cảm thấy bị lôi cuốn bởi
một việc gì hay một vật gì chưa, chẳng hạn như Morse cảm thấy rất tò mò với màn biểu diễn
ảo thuật của chàng thanh niên nọ? Khi bạn thấy rất tò mò về một điều gì đó, bạn có thắc mắc
và cố gắng tìm xem tại sao mình lại thích thú điều đó đến thế không?
NHÀ HOÁ HỌC TRẺ TUỔI MOSELEY
Nhà hoá học Moseley khi còn nhỏ vốn rất say mê thiên nhiên, yêu mến các loài động vật, nhất
là loài chim. Mọi người thường gọi Moseley là “nhà bác học nhỏ tuổi”. Lúc ấy, Moseley chưa
từng bao giờ nghĩ rằng, sau này mình lại đi theo con đường nghiên cứu Hoá học.
Lớn lên, Moseley thi vào Trường đại học Oxford. Hồi đó, các sinh viên thường hay tổ chức tới
thăm và trò chuyện với các nhà khoa học danh tiếng. Cũng như các sinh viên khác, một lần,
Moseley đã tới thăm nhà khoa học nổi tiếng Rutherford. Ông Rutherford tiếp đón Moseley hết
sức thân mật. Trong cuộc nói chuyện, ông nhận thấy ở Moseley có một nền tảng tri thức vững
vàng, rất có năng lực để phát triển. Sau này, khi Moseley tốt nghiệp đại học, nhà khoa học
Rutherford đã mời anh tới làm việc trong phòng thí nghiệm của mình.
Sau khi tốt nghiệp đại học, xuất phát từ lòng kính trọng đối với một nhà khoa học và cũng từ sự
hiếu kì của bản thân, Moseley đã đến phòng thí nghiệm của ông Rutherford để làm việc. Khi đó,
anh nghĩ rằng, các môn khoa học tự nhiên vốn gắn bó mật thiết với nhau, đến làm việc ở phòng
thí nghiệm để học hỏi thêm một số kiến thức về hoá học thì cũng có ích cho việc nghiên cứu
động vật học sau này…
Thật không ngờ, vốn chỉ có ý định học hỏi thêm một chút kiến thức ngoài chuyên ngành,
nhưng ngay từ khi bắt đầu, công việc ở phòng thí nghiệm của ông Rutherford đã thực sự lôi
cuốn Moseley hơn anh nghĩ. Một thời gian sau, Moseley nhận ra rằng, hoá học, mới là công việc
của cuộc đời anh, những đam mê và khát vọng thành công trong nghiên cứu hoá học mới là sự
lựa chọn đúng đắn nhất đối với anh!
Từ đó, Moseley hoàn toàn “bị môn Hoá học chinh phục”. Anh dốc hết tâm sức cho công việc
nghiên cứu hoá học và dần dần thu được nhiều thành công đáng kể. Mỗi ngày, anh đều làm việc
ở phòng thí nghiệm từ sáng đến tận đêm khuya, đặc biệt là những lúc ở giai đoạn quan trọng
của một nghiên cứu hay một thực nghiệm, anh làm việc thâu đêm.
Làm việc miệt mài, không một phút nản lòng, về sau, Moseley đã phát hiện định luật mang tên
anh - định luật giải thích về tác dụng quan trọng của quy luật tuần hoàn nguyên tố hoá học,
trong đó đề xuất tư tưởng: tính chất nguyên tố bị quyết định bởi số nguyên tử, từ đây, định luật
tuần hoàn nguyên tố hoá học đã được thiết lập trên cơ sở khoa học. Đồng thời, những phát
hiện của Moseley còn bổ sung quan trọng những nguyên tố mới, những nguyên tố từng được
dự đoán trong bảng tuần hoàn Mendeleev, kèm theo những luận cứ lí luận chính xác, mẫu mực.
Trong thời gian nghiên cứu vỏn vẹn 4 năm, Moseley đã có những cống hiến đáng kinh ngạc. Tất
cả những ai đã từng quen biết Moseley đều phải thừa nhận rằng, anh sẽ còn đi xa hơn nữa trên
con đường nghiên cứu khoa học.
Thế nhưng, không lâu sau đó, Moseley phải nhận lệnh nhập ngũ, lên đường ra trận tuyến của
cuộc Chiến tranh thế giới thứ I. Trong cuộc chiến ấy, Moseley đã hi sinh ở tuổi 27. Đây thực sự
là một tổn thất vô cùng nặng nề đối với nền khoa học thế giới cũng như với toàn nhân loại.
Tìm tòi và suy ngẫm
Các bạn nghĩ thế nào nếu như Moseley không qua đời quá sớm? Anh sẽ tiếp tục có những cống
hiến to lớn hơn cho khoa học thế giới?
Moseley và cả Kekulé hay Morse trong những câu chuyện trước, đều có thể phát huy tài năng
của mình trên các lĩnh vực khoa học khác. Các bạn nghĩ vì sao sau khi tiếp cận với hoá học và
vật lí thực nghiệm, họ lại thay đổi hướng phát triển sự nghiệp của bản thân? Các bạn hãy liên
hệ với bản thân mình, hãy thử nghĩ về cảm giác của mình khi bạn đang làm một thí nghiệm
khoa học nhỏ!
CÂU HỎI DÀNH CHO BỐ MẸ
Trong rạp chiếu phim có 4 ghế ngồi, 4 người được tuỳ ý lựa chọn ghế ngồi. Vậy sẽ có bao nhiêu
cách xếp chỗ ngồi cho 4 người vào 4 chiếc ghế đó?
Đáp án: 24 cách.
ĐI TÌM LỜI GIẢI ĐÁP
Các bạn đã bao giờ thử chế tạo ra một cái gì đó chưa? Bạn đã từng làm được một cái máy gì đó
chạy bằng sức gió chưa?
Bây giờ, bạn có thể kể tên ít nhất 5 nhà khoa học lớn không? Mỗi tên của một nhà khoa học mà
bạn kể được, bạn hãy tự thưởng cho mình một bông hoa màu đỏ nhé!
GÓC VUI SÁNG TẠO
Nếu như tất cả những lời nói dưới đây đều sai thì theo bạn, ai là người làm vỡ bình hoa?
Mạch nói: “Là Lệ đã đánh vỡ bình hoa”.
Minh nói: “Mạch sẽ nói cho bạn biết ai đánh vỡ bình hoa”.
Ngải nói: “Minh, Mạch và tớ không có khả năng là người đã làm vỡ bình hoa”.
Lực nói: “Tớ không làm vỡ bình hoa”.
Khắc nói: “Là Mạch làm vỡ bình hoa, cho nên bạn Minh và bạn Ngải đều không có khả năng là
người làm vỡ bình hoa”.
Cát nói: “Là tớ làm vỡ bình hoa, tất cả các bạn khác đều không có lỗi”.
Đáp án Góc vui sáng tạo: Chính là Lực đã làm vỡ bình hoa. Bởi vì, điều kiện nêu ra là “tất cả
những lời nói được đưa ra đều sai”. Khi Lực nói “Mình không làm vỡ bình hoa”, Lực đã nói sai
nên Lực chính là người làm vỡ bình hoa. Ngải nói Minh, Mạch và Ngải không có khả năng làm
vỡ bình hoa, Khắc nói Minh và Ngải đều không có khả năng làm vỡ bình hoa, Ngải và Khắc nói
sai nên cả Minh, Mạch và Ngải đều chỉ có khả năng làm vỡ bình hoa mà thôi, điều này không
khẳng định được rằng một trong mấy bạn đó ai là người chắc chắn đã làm vỡ bình hoa. Vì vậy,
ở đây chỉ có Lực là người đã làm vỡ bình hoa!
NHỮNG PHÁT MINH TÁC ĐỘNG TỚI CUỘC
SỐNG THƯỜNG NGÀY CỦA CHÚNG TA
PHÁT MINH RA MÁY ẢNH
Chắc là các bạn đều đã từng chụp ảnh. Nhưng các bạn ngày xưa, nếu muốn lưu lại hình ảnh của
mình thì chỉ có một cách duy nhất là mời hoạ sĩ đến, ngồi bất động nửa ngày để làm mẫu cho
họ vẽ. Còn chúng ta bây giờ thì khác hẳn, chỉ cần có máy ảnh trong tay, “tách” một cái là đã ghi
lại được hình ảnh rất đẹp của mình rồi!
Hồi đầu thế kỉ XIX, Joseph Niépce và Louis Jacques Mandé Daguerre, người Pháp, đã tình cờ
gặp nhau vì cùng chung niềm đam mê với kĩ thuật chụp ảnh. Từ đó, hai ông đã trở thành đôi
bạn thân thiết và cùng hợp tác nghiên cứu. Các ông đã đem bột nhựa đường trộn với dầu cỏ oải
hương (một loài cỏ thơm, lá hẹp, thường dùng làm nguyên liệu sản xuất nước hoa), sau đó vảy
dung dịch này lên mặt tấm kẽm chụp ảnh (về sau, tấm kẽm được cải chế thành phim ảnh). Sau
khi để khô, tấm kẽm được phơi sáng một thời gian lâu trong phòng tối chuyên dụng của chụp
ảnh. Lấy ra từ phòng tối, lại đưa tấm kẽm vào dung dịch hỗn hợp bột nhựa đường và dầu cỏ oải
hương lần thứ hai. Kết quả là, ở những chỗ không nhạy cảm với ánh sáng, nhựa đường bị hoà
tan, còn với những chỗ nhạy cảm với ánh sáng, nhựa đường bị giữ lại trên bề mặt tấm kẽm và
lờ mờ hiện lên ảnh vật (hình ảnh của vật). Mặc dù ảnh vật còn mờ nhưng ít nhất thì chúng đã
không bị mất đi hoàn toàn dưới tác động của bức xạ ánh sáng. Và như thế, một tấm ảnh được
ra đời.
Tuy nhiên, Niépce và Daguerre đều chưa hài lòng với kết quả này. Để có thể tạo ra những tấm
ảnh rõ nét hơn, các ông tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi. Các ông đã sử dụng nhiều loại dầu và
nhiều loại bản kim loại khác nhau để thực nghiệm. Công việc còn dang dở, tấm ảnh sắc nét như
mong muốn vẫn chưa chế tạo thành công thì thật bất hạnh, Niépce mắc bệnh nặng và qua đời.
Daguerre vô cùng thương tiếc người bạn, người đồng nghiệp thân thiết của mình và ông càng
quyết tâm hoàn thành mơ ước của hai người.
Một hôm, như mọi khi, Daguerre phun hơi Iốt lên mặt bản kim loại mạ bạc và đặt bản kim loại
vào phòng tối. Ba tiếng sau, ông lấy bản kim loại ra, đặt nó vào trong hộp đựng nhiều loại dược
phẩm khác nhau. Sáng hôm sau, khi Daguerre mở hộp lấy tấm kim loại ra xem thì thật là kinh
ngạc, trên mặt bản kim loại mạ bạc đã hiện thật rõ nét hình ảnh sự vật. Tự mình đặt ra nhiều
câu hỏi, Daguerre suy nghĩ rất lâu, ông cho rằng, hẳn phải có một loại dược phẩm nào đó tác
động làm cho ảnh vật được hiện rõ nét như vậy. Ông bèn bắt tay vào nghiên cứu tỉ mỉ từng loại
dược phẩm, cuối cùng đã phát hiện ra đó chính là nhờ tác dụng của hơi thuỷ ngân. Đây chính là
phát minh của Daguerre - làm ảnh nhờ vào việc sử dụng hơi thuỷ ngân. Kĩ thuật làm ảnh này
sau đó được gọi là “phép chụp hình ngân bản” hay “phép chụp hình Daguerre”.
Không lâu sau, phát triển hướng nghiên cứu này, Daguerre tìm được phương pháp làm ảnh
nhanh và hiệu quả hơn, đồng thời kết hợp với kĩ thuật định ảnh và các chất liệu giấy ảnh
đương thời, Daguerre đã chế tạo ra chiếc máy ảnh đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Mặc dù,
chiếc máy ảnh này rất nặng nề và chỉ có thể chụp được hình khi đủ ánh sáng mặt trời nhưng so
với bức vẽ từng nét, từng nét trên giấy, phải thừa nhận rằng, đây là một bước tiến lớn lao. Cùng
với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật hiện đại, chiếc máy ảnh ngày nay
đã trở nên gọn nhẹ, tiện dụng và còn có nhiều tính năng ưu việt khác nữa.
Tìm tòi và suy ngẫm
Bạn đã bao giờ sử dụng một chiếc máy ảnh chưa? Bạn hãy nhờ bố mẹ hoặc anh chị dạy cho
cách chụp ảnh nhé! Và tại sao bạn lại không thể cầm máy ảnh chụp cho bố mẹ và mọi người
trong gia đình những tấm ảnh thật đẹp nhỉ?
Bạn hãy nghĩ xem tại sao chiếc máy ảnh đầu tiên chỉ có thể chụp hình được khi có đủ ánh sáng
mặt trời?
“LÀM CHO MÂY BIẾT GIEO HẠT”
Vào những năm 40 của thế kỉ XX, chàng thanh niên Schaefer cùng thầy giáo của mình - nhà
khoa học người Mĩ Langmuir đã đi thực nghiệm tại vùng núi đầy tuyết phủ. Ở đó, họ phát hiện
ra rằng, nhiệt độ của các tầng mây xung quanh thường xuyên thấp hơn “điểm đông” (tức là
nhiệt độ mà một chất lỏng bị đóng băng) nhưng lượng nước trong các đám mây thì không hề
đóng băng, mà cũng chưa tạo thành mưa hoặc tuyết. Hiện tượng kì lạ này đã thu hút sự chú ý
đặc biệt của Schaefer.
Khi ấy, mọi người vẫn chưa hiểu rõ nguyên nhân căn bản của hiện tượng hình thành mưa và
tuyết. Vì thế, Schaefer đề xuất với thầy Langmuir: “Thưa thầy, nếu như chúng ta có thể hiểu rõ
điều kiện và nguyên nhân của hiện tượng hình thành mưa và tuyết thì lẽ nào lại không thể làm
ra mưa nhân tạo?”.
Thầy Langmuir rất tán thành ý tưởng này, và Schaefer bắt đầu cuộc tìm kiếm lời giải đáp cho ý
tưởng của mình. Anh thực hiện thí nghiệm bằng một loại máy tạo ra khí ẩm lạnh như trong các
đám mây, nhưng vẫn không thu được kết quả.
Một ngày trời vô cùng nóng bức, Schaefer vẫn cặm cụi làm việc với cái máy tạo khí ẩm lạnh. Đã
tới giờ ăn trưa, như thường lệ, Schaefer mở nắp tủ làm băng và để đó đi nghỉ. Sau bữa trưa,
Schaefer trở lại làm việc. Khi kiểm tra tủ làm băng, anh bỗng phát hiện thấy nhiệt độ của tủ
đang tăng lên. Vì sao nhiệt độ của tủ làm băng lại tăng? Schaefer suy nghĩ hồi lâu, bỗng nhiên
hiểu ra căn nguyên: Do tủ làm băng không được đậy nắp, cho nên khi có tác động của không khí
nóng xung quanh sẽ làm cho tủ làm băng tăng nhiệt độ.
Để tiếp tục thí nghiệm theo hướng này thì cần phải làm sao để nhiệt độ giảm mạnh và nhanh.
Schaefer bèn cho thêm vào máy làm lạnh một số khối băng. Trong lúc đang cho khối băng đó
vào máy làm lạnh, anh bỗng hắt hơi. Sự vô tình ấy dẫn đến một hiện tượng kì lạ: Bên trong máy
làm lạnh, từ luồng hơi vừa hắt ra từ miệng anh, có thể nhìn thấy rất nhiều những hạt lấp lánh,
nhỏ li ti. Schaefer hiểu ngay vấn đề: Những hạt lấp lánh, nhỏ li ti chính là các tinh thể băng. Anh
tiếp tục hà hơi về phía máy làm lạnh và cho thêm vào nhiều băng khô, thế là những tinh thể
băng biến thành những bông tuyết nhỏ xíu, bay phất phới.
Lúc này, Schaefer vô cùng phấn chấn và xúc động. Anh nói với thầy Langmuir: “Em đã làm
được những bông tuyết nhân tạo!”.
Thầy Langmuir cũng rất vui mừng trước thành quả của Schaefer, ông nói: “Như thế là chúng ta
đã có thể làm được tuyết nhân tạo, nhưng đây mới là trong phòng thí nghiệm, chúng ta cần
phải tiến hành thí nghiệm trong không trung nữa”.
Schaefer và thầy Langmuir vô cùng sốt ruột chờ đợi tới tháng 11 lạnh giá để thử nghiệm “làm
những bông tuyết nhân tạo”. Hôm đó, trời rất lạnh, có mây nhưng không có tuyết. Schaefer lái
một chiếc máy bay, bay cao lên tầng mây, sau đó thả từ máy bay xuống rất nhiều băng khô.
Thầy Langmuir đứng dưới mặt đất quan sát hết sức tập trung. Và bỗng nhiên, ông nhìn thấy vô
số bông tuyết li ti từ trên trời bay phất phới trong không trung. Những bông tuyết rơi xuống
đất thì biến thành những giọt nước. Thầy Langmuir không giấu nổi niềm vui sướng và xúc
động: “Schaefer! Thành công rồi! Chúng ta đã thành công thật rồi!”.
Vậy là Schaefer đã phát minh ra cách dùng băng khô để tạo ra mưa, tuyết nhân tạo. Thuật “hô
mưa gọi gió” trong các câu chuyện cổ tích xa xưa bây giờ đã trở thành hiện thực! Về sau, vì sự
ngưỡng mộ phát minh này, người ta đã gọi đây là “làm cho mây biết gieo hạt”.
Tìm tòi và suy ngẫm
Bạn có biết mưa được hình thành như thế nào không?
Ngày nay, phương pháp làm mưa nhân tạo đã tiến bộ hơn, bạn có biết người ta làm thế nào
không?
SÓNG TRONG KHÔNG TRUNG
Thế kỉ XIX, điện học còn là một môn khoa học mới phát triển. Không chỉ các nhà khoa học mà
tất cả mọi người đều rất quan tâm đến môn khoa học mới này. Từ năm 1887, nhà vật lí học
Hertz đã chứng minh được sự tồn tại của sóng điện từ. Sau đó, tiếp thu và phát triển những
thực nghiệm của Hertz, Marconi - một kĩ sư người Italia, đã có ý tưởng nghiên cứu sóng điện từ
để dùng nó truyền phát điện báo vô tuyến (không dây). Để hiện thực hoá ý tưởng của mình,
Marconi đến thư viện và tìm đọc rất nhiều tài liệu có liên quan cần thiết rồi bắt đầu đi vào
nghiên cứu tỉ mỉ.
Qua một thời gian dài nghiên cứu, Marconi đã làm ra một chiếc máy - một chiếc máy không chỉ
nhận được sóng điện từ mà còn có khả năng phát chuông. Sau đó, Marconi còn lắp một máy
phát trên đường điện truyền của máy điện báo, chỉ cần ấn nút điện thì nó sẽ tạo ra những tia
lửa điện. Marconi mang hai thiết bị này đặt ra ngoài khoảng không của khu trang trại của
mình. Ông thử nhấn nút điện, khi đó, máy phát trên đường điện truyền của máy điện báo lập
tức sản sinh ra sóng điện từ, sóng này tác động làm chuông điện ở máy nhận kêu lên tiếng
“reng”.
Kết quả này thật đúng là điều mà Marconi đang mong đợi. Ông cho điều chỉnh khoảng cách
giữa hai thiết bị để xác định cự li thích hợp nhất. Marconi được khích lệ rất nhiều vì thành công
thực sự không còn xa. Nhờ những cố gắng không ngừng để cải tiến cả hai loại thiết bị, cự li phát
- nhận tín hiệu giữa hai thiết bị ngày càng được dãn xa hơn, độ nhạy cảm của máy cảm ứng
ngày càng cao hơn.
Vậy là, sau nhiều năm chuẩn bị, cuối cùng cũng đến lúc ông công bố thành quả lao động.
Marconi gửi giấy mời tới nhiều người với nội dung: tới xem “sự truyền phát và thâu nhận tín
hiệu điện báo không dây (vô tuyến điện báo)”. Rất nhiều người mang theo sự bán tín bán nghi
tới “buổi biểu diễn” của Marconi. “Buổi biểu diễn” của Marconi diễn ra trên hội trường tầng
cao của toà nhà tổng cục Bưu chính Luân Đôn. Marconi mời một khán giả viết ra mẩu giấy một
đoạn văn ngắn, sau đó theo cách đánh điện báo của Morse, ông đã thực hiện truyền tín hiệu
bằng máy điện báo vô tuyến (không dây) do ông chế tạo. Sau đó, ông cùng những người chứng
kiến đi tới tầng chót của một toà nhà khác cách đó chừng 1km. Lúc này, người giúp việc của
Marconi, bằng thiết bị thâu nhận tín hiệu đã nhận được mẩu tin mà ông gửi đi từ toà nhà tổng
cục Bưu chính Luân Đôn. Tất cả những người chứng kiến đều vô cùng sửng sốt và thán phục.
Marconi tràn ngập vui sướng và xúc động, ông tuyên bố với mọi người: “Đây là sức mạnh thần
kì của khoa học!”.
Kết nối tri thức
Phát minh ra vô tuyến điện và điện thoại đều là những thành tựu của chuyên ngành Điện học
trong bộ môn Vật lí. Vật lí học là một môn khoa học tự nhiên chuyên nghiên cứu những tính chất
tương quan về mặt quang (ánh sáng), thanh (âm thanh), nhiệt, lực…của các vật thể. Các chuyên
ngành chủ yếu của Vật lí học bao gồm Lực học, Điện học, Thanh học, Quang học, Nhiệt học và Từ
học…
Tìm tòi và suy ngẫm
Tại sao trước khi có phát minh của Marconi, tín hiệu điện báo truyền phát và thu nhận lại được
gọi là tín hiệu Morse? (Bạn còn nhớ câu chuyện Sự thay đổi của Morse không?).
Trong quá trình nghiên cứu về máy điện báo, nhà khoa học người Mĩ Alexander Graham Bell đã
phát minh ra máy điện thoại. Còn Guglielmo Marconi, trên nền tảng máy điện báo, đã phát
minh ra vô tuyến điện. Hai nhà khoa học dựa trên cùng một nền tảng tr...
Đăng Khoa
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
NỘI DUNG CHỦ YẾUVÀ CÁCH SỬ DỤNG SÁCH:
TRUYỆN KỂ
Nội dung câu chuyện có tính chất gợi mở và gây hứng thú đối với trẻ em, phù hợp với tâm lí
của các em. Các em có thể thông qua đó để học làm theo hoặc sáng tạo những ý tưởng mới.
KẾT NỐI TRI THỨC
Giúp các em hiểu biết thêm những tri thức liên quan đến nội dung truyện kể, mở rộng tầm hiểu
biết của các em.
GÓC VUI SÁNG TẠO
Cung cấp những câu đố vui rèn luyện trí thông minh.
RÈN LUYỆN SÁNG TẠO
Hướng dẫn các em tập làm những thí nghiệm vui.
TÌM TÒI VÀ SUY NGẪM
Chứa đựng những thông tin gợi mở, mang tính hướng đạo, giúp các em có thể tự tìm tòi, chủ
động học tập, tư duy.
CÂU HỎI DÀNH CHO BỐ MẸ
Giúp các bậc phụ huynh biết cách phát huy tính tích cực chủ động của con cái, tạo không khí
cùng hoạt động giữa bố mẹ và con cái.
ĐI TÌM LỜI GIẢI ĐÁP
Giúp trẻ em tăng cường việc tích luỹ tri thức qua quá trình đọc sách, khích lệ lòng tự tin, tinh
thần chủ động của các em trong học tập.
KHẢ NĂNG SÁNG TẠO THẦN KỲNẮM BẮT CƠ
HỘI SÁNG TẠO
CHUYẾN ĐI BIỂN TRÊN CON TÀU BEAGLE
Mọi người chắc hẳn đều đã từng biết đến những câu chuyện về cha đẻ của “thuyết tiến hóa” nhà bác học Darwin. Thế nhưng các bạn có biết không? Người sau này trở thành nhà khoa học
vĩ đại, được cả thế giới biết đến và ca tụng lại có một thời niên thiếu chỉ biết “câu cá, hái hoa
bắt bướm và nghịch ngợm”. Khi Darwin còn nhỏ, ngay người cha của cậu cũng phải thừa nhận,
ông chẳng tin tưởng Darwin rồi có thể làm nên trò trống gì, có lẽ rồi chỉ làm hổ danh truyền
thống gia đình mà thôi.
Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, Darwin chỉ ở nhà suốt ngày rong chơi. Điều này khiến
người cha vừa lo lắng vừa bực giận. Chính lúc ấy, một thầy giáo của Darwin đã gửi đến một bức
thư. Trong thư viết rằng: Bộ Hải quân đang xúc tiến một chuyến đi biển dài ngày tới Nam Mĩ
khảo sát khoa học và thầy giáo khuyên Darwin nên đi theo đoàn khảo sát, nhân cơ hội để mở
rộng tầm hiểu biết.
Nhận được tin này, Darwin vô cùng sung sướng và háo hức. Cậu đã tìm đủ mọi cách để thuyết
phục bằng được cha mình đồng ý cho cậu đi theo con tàu mang tên Beagle của Bộ Hải quân
Hoàng gia Anh. Từ đây, Darwin bắt đầu công việc nghiên cứu khoa học trong suốt gần 5 năm đi
theo hành trình của con tàu Beagle. Đi theo Beagle, dù đến bất cứ đâu, chỉ cần gặp một sự việc
mới lạ là Darwin lại cẩn thận ghi chép lại. Đặc biệt, Darwin rất chú ý đến những tập quán sống
và tình hình sinh trưởng muôn màu muôn vẻ của các loài động thực vật. Đương nhiên, chàng
thanh niên Darwin khi đó, cũng như tất cả người đương thời, đều tin rằng vạn vật trong thế
giới đều do Thượng đế sáng tạo ra.
Cho đến một ngày, trong khi khai quật ở một vùng đất mà con tàu Beagle ghé qua, Darwin đã
phát hiện thấy mẫu hoá thạch mà còn nguyên vẹn của một con thú răng kiếm. Darwin rất thích
mẫu hoá thạch mà anh tìm được, bởi vì so với các động vật ngày nay, con thú này có phần
mình giống voi, răng giống thỏ, mắt, mũi, tai lại giống con lợn biển. Điều thú vị là ngày nay, voi,
thỏ hay lợn biển đều không thuộc cùng một chủng loài. Vì sao trước đây những con vật này lại
có thể “hợp làm một” như vậy. Và thế là Darwin cứ ngồi lì dưới hố khai quật, hai tay bưng mẫu
hoá thạch tìm được, xem qua xem lại không hết tò mò. Bỗng nhiên, Darwin thừ người ra, phải
một lúc rất lâu sau đó mới thốt ra lời. Nhìn vào mẫu hoá thạch mà như còn chưa hết kinh ngạc,
Darwin nghĩ thầm: “Thượng đế, có lẽ nào vạn vật vốn đều không phải do Người sáng tạo ra hay
sao?”.
Cũng từ đó, cái nghi vấn ấy cứ ngày càng lớn dần trong tâm trí Darwin. Ba năm sau, Darwin lại
được chứng kiến một hiện tượng lạ lùng khác của thế giới sinh vật. Đó là một loài rùa biển.
Chúng sinh sống trên một hòn đảo khan hiếm nước ngọt, vì thế chúng phải tích trữ rất nhiều
nước trong cơ thể. Điểm này rất khác với những loài rùa thông thường. Vậy là, cùng một loài
rùa như nhau mà sao những con rùa sống trên đảo lại có thể trữ nhiều nước vào trong cơ thể
của chúng? Chẳng phải là vì hoàn cảnh khan hiếm nước trên đảo đã buộc những con rùa phải
tích nhiều nước trong cơ thể mình hay sao? Vì thế, Darwin lại ngày càng nghi ngờ cái điều mà
cả thế giới lúc đó vẫn tin tưởng rằng: “Vạn vật trên đời này đều do Thượng đế sáng tạo ra”. Có
thể nói nếu rời đất liền bước chân lên tàu Beagle là xuất phát từ tò mò và hiếu kì thì đến lúc
này, chàng Darwin trẻ tuổi đã thực sự bắt đầu có ý thức tìm kiếm một hệ quy luật khoa học tự
nhiên còn ẩn tàng dưới những mẫu vật và trong cái thế giới sinh vật rộng lớn ngoài kia.
Thế là từ một cậu bé ham chơi, “việc gì đụng vào là hỏng việc ấy”, qua gần 5 năm đi sưu tầm
khảo sát và nghiên cứu, Darwin không chỉ tự thay đổi bản thân mà còn dần hình thành những
tư tưởng đầu tiên cho “thuyết Tiến hoá" nổi tiếng sau này. Nhìn thấy những thay đổi to lớn của
con trai sau khi trở về từ chuyến đi biển đường dài theo con tàu Beagle, người cha vừa mừng
vui vừa không khỏi ngỡ ngàng: “Trời, lẽ nào đây lại chính là thằng con vô công rồi nghề của tôi
hay sao?”. Hơn lúc nào hết, ông hiểu rằng đứa con trai từng làm ông thất vọng trước đây không
còn nữa, Darwin - con rồi đây nhất định sẽ làm nên sự nghiệp, nhất định sẽ làm rạng danh
truyền thống gia đình.
Có thể nói, chính chuyến đi cùng tàu Beagle đã tạo điều kiện tốt nhất để Darwin “sáng tạo”,
không chỉ là tạo nên một bước ngoặt trong cuộc đời mình mà còn đưa tới một trang sử mới
cho cả thế giới khoa học.
Kết nối tri thức
Darwin là nhà khoa học, nhà sinh vật học vĩ đại người Anh thế kỉ XIX. Qua nghiên cứu trong
nhiều năm, ông đã xây dựng hoàn chỉnh học thuyết lí luận về sự tiến hoá của sinh vật. Ông để lại
tác phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc các loài”, trong đó trình bày học thuyết tư tưởng của ông về “tiến
hoá”. Học thuyết tiến hoá của sinh vật đã hoàn toàn lật đổ quan niệm sai lầm từng thống trị dai
dẳng cho rằng: “Thượng đế sáng tạo ra muôn loài”.
Tìm tòi và suy ngẫm
Bạn có phải là một cậu bé hay một cô bé thích đi chơi không? Bố mẹ bạn có bao giờ nói với bạn
như Darwin - cha nói với Darwin - con rằng: “Con suốt ngày chỉ biết lo chơi thôi”? Bạn nghĩ thế
nào về sự thay đổi của Darwin?.
Bạn có biết nội dung chủ yếu “Học thuyết Tiến hoá” của Darwin là gì không?
TỪ KIẾN TRÚC SƯ TRỞ THÀNH NHÀ HOÁ HỌC
Kekulé là nhà hoá học nổi tiếng trong lịch sử hoá học thế giới cận đại. Ông sinh ra ở Đức. Khi
còn nhỏ, Kekulé tỏ ra có năng khiếu vượt trội về kiến trúc. Lúc ấy, trong thành phố, người ta
vừa xây dựng xong ba toà nhà cao tầng. Những người đến thăm quan khu nhà mới đều không
ngớt thán phục và họ càng kinh ngạc hơn khi biết, cả ba toà nhà đều được xây dựng theo bản
thiết kế của một cậu bé học sinh trung học - cậu bé Kekulé.
Nhưng rồi một cơ hội tình cờ đến với Kekulé, khi anh gặp nhà hoá học nổi tiếng Liebig, đánh
dấu bước chuyển biến quan trọng của Kekulé sang lĩnh vực hoá học.
Lúc ấy, Liebig là một nhà hoá học danh tiếng. Khi nghe tin nhà hoá học Liebig chuẩn bị có bài
giảng trong trường, xuất phát từ sự tò mò, Kekulé đã tìm đến nghe giảng. Bài giảng của thầy
Liebig rất sống động, mạch lạc và dễ hiểu. Những chứng minh và giải thích về một vài thí
nghiệm lí thú ngay lập tức lôi cuốn Kekulé. Trở về kí túc xá, Kekulé luôn suy nghĩ về môn hoá
học đầy hấp dẫn, về những thí nghiệm sống động của thầy Liebig. Cuối cùng, anh quyết định
chuyển sang theo học ngành Hoá học.
Quyết định của Kekulé lập tức vấp phải sự phản đối của gia đình. Mẹ anh nói: “Tại sao con vứt
bỏ ngành kiến trúc danh giá và xán lạn để đi theo học hoá học gì gì đấy?”. Nhưng Kekulé nhất
quyết đi theo sự lựa chọn của mình: “Con có niềm tin. Con tin rằng tương lai của con là hoá
học, nghiên cứu hoá học mới thực sự là công việc của cuộc đời con”.
Sau đó, Kekulé chuyển sang học ở một Học viện Kĩ thuật công nghệ. Sau khi vào trường không
lâu, nhờ sự chỉ dẫn của một thầy giáo giỏi, Kekulé đã thực hiện nhiều thí nghiệm hoá học và rất
mau chóng nắm vững các phương pháp nghiên cứu khác nhau. Gia đình Kekulé không có cách
gì lay chuyển được lòng quyết tâm theo học hoá học của anh, cuối cùng đành chấp nhận sự lựa
chọn này. Không lâu sau, Kekulé đến tìm thầy Liebig và xin được theo học. Thầy Liebig vô cùng
cảm động trước ý chí và lòng quyết tâm của sinh viên Kekulé. Từ lúc này, dưới sự chỉ dẫn tận
tình của thầy Liebig, Kekulé bắt đầu bước vào con đường nghiên cứu hoá học không ít gian khổ
nhưng vinh quang.
Để tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn, Kekulé đã sang Paris du học theo con đường tự túc.
Vì học phí du học rất tốn kém nên suốt thời gian học tập tại Paris, Kekulé phải sống trong điều
kiện hết sức vất vả. Nhưng với lòng quyết tâm và nghị lực phi thường, cuộc sống càng vất vả thì
Kekulé càng dốc chí học hành. Một hôm, Kekulé tình cờ đọc được thông báo trên bảng tin của
nhà trường về việc một tiến sĩ hoá học hữu cơ nổi tiếng của Pháp đang có bài thuyết giảng tại
trường. Kekulé vội vã chạy tới để kịp buổi nghe giảng. Sau khi nghe giảng, Kekulé đã đặt ra
nhiều câu hỏi khá phức tạp khiến cho bản thân vị tiến sĩ diễn giảng ngày hôm đó cùng nhiều
chuyên gia có mặt tại giảng đường đều phải kinh ngạc.
Với ý chí, quyết tâm học tập và những cố gắng không mệt mỏi, sau này Kekulé trở thành một
nhà hoá học vĩ đại của thế giới, người đã đề xuất nhiều mệnh đề quan trọng trong nghiên cứu
hoá học.
Tìm tòi và suy ngẫm
Bạn có biết “hoá học” là gì không? “Hoá học” nghe chừng có vẻ như rất khó hiểu và xa lạ.
Nhưng biết đâu sau này, bạn cũng tình cờ gặp được một thầy giáo giỏi như thầy Liebig và rồi
bạn cũng sẽ thấy “hoá học” là một khoa học thật tuyệt vời và nhiều ý nghĩa.
Đã bao giờ có ai hỏi bạn rằng: “Lớn lên bạn thích làm gì chưa?” Bạn có muốn mơ ước trở thành
một nhà khoa học như không ít bạn nhỏ khác đã mơ ước? Và nếu như thế, tại sao bạn không
nghĩ rằng lớn lên mình cũng sẽ thành một nhà khoa học?
SỰ THAY ĐỔI CỦA MORSE
Nhà phát minh ra máy điện báo Morse từng là một hoạ sĩ và là một hoạ sĩ có tiếng trong giới
mĩ thuật Hoa Kì với những bức tranh phong cảnh. Con đường nghệ thuật đang rộng mở và
Morse cũng tập trung tất cả cho sự nghiệp hội hoạ của ông. Thế nhưng, một chuyện tình cờ đến
với Morse khi ông ở tuổi 41 - một bước ngoặt trong cuộc đời ông.
Mùa thu năm ấy, khi Morse đi trên chuyến tàu thuỷ trở về Mĩ, ông nhìn thấy một thanh niên
đang diễn những trò ảo thuật. Người thanh niên nọ bày trên mặt bàn một khối sắt hình chữ U,
phía trên chằng chịt những sợi dây đồng được quấn lớp cách điện, bên cạnh để pin và ghim sắt.
Màn biểu diễn ảo thuật bắt đầu. Người thanh niên cho điện chạy qua dây đồng, lúc ấy, khối sắt
hình chữ U dường như xuất hiện một lực vô hình hút lấy những cái ghim sắt. Sau đó, người
thanh niên cho ngắt nguồn điện, lập tức những chiếc ghim sắt dính trên thanh sắt hình chữ U
liền rơi xuống, cái lực hút vô hình kia đã biến mất. Để tăng thêm phần hấp dẫn cho màn biểu
diễn, “nhà ảo thuật” trẻ tuổi thuyết minh thêm: “Đây chính là hiệu ứng từ của dòng diện. Khi
dòng điện chạy qua ống dây đồng, “điện” chuyển hoá thành “từ” làm cho thanh sắt hình chữ U
sản sinh ra từ tính, nhờ đó, thanh sắt này có thể hút được những cái ghim sắt... Thời đại của
những ứng dụng năng lượng điện đã đến. Điện có năng lượng vô cùng lớn, có thể truyền đi với
tốc độ rất nhanh. Nếu cố gắng nghiên cứu, nhất định một ngày nào đó, chúng ta có thể dùng
điện để truyền đi thông tin...”.
Những lời thuyết minh của “nhà ảo thuật” trẻ tuổi đã tác động mạnh tới Morse. Ông lại nghĩ
đến những phiền hà của việc tin tức bị gián đoạn do sự lạc hậu của các máy truyền tin bấy giờ.
Thế là từ đó bắt đầu hé lộ trong Morse ý tưởng phát minh mới về thông tin liên lạc.
Trở về nhà, ông treo bút vẽ, dành toàn bộ thời gian và tâm sức để tìm tòi, nghiên cứu và chế
tạo máy điện báo. Dĩ nhiên là Morse chưa từng có một kiến thức căn bản nào về môn Điện học
và với ông, tất cả phải bắt đầu từ con số không. Ông đi thu thập từ khắp nơi những sách vở nói
về “điện”. Ông đọc từ cuốn này sang cuốn khác, vừa đọc vừa ghi lại những điều tâm đắc. Với
tinh thần học tập và những cố gắng không mệt mỏi, trong một thời gian ngắn, Morse đã nắm
được những lí luận căn bản của môn Điện Từ học. Ông biến xưởng vẽ trước kia thành một
phòng thí nghiệm và dành tất cả thời gian làm việc với những thanh nam châm, những sợi dây
điện. Hết thí nghiệm này lại đến thí nghiệm khác, không biết đã có bao nhiêu thí nghiệm bị
thất bại. Những thí nghiệm không chỉ lấy đi của Morse thời gian và sức lực, chúng cũng tiêu tốn
của ông rất nhiều tiền bạc. Cuộc sống của Morse ngày càng chật vật hơn.
Thế nhưng, Morse không một phút nản lòng. Ông đã có nhiều kiến thức về Điện học, nắm vững
nhiều phương pháp chế tạo kĩ thuật. Quyết tâm sáng chế ra máy điện báo vẫn không ngừng
thúc giục trong ông. Một hôm, khi cho dòng điện chạy vào, ông nhận thấy các tia lửa điện tạo ra
những tiếng “lách tách”. Ông miên man trong suy nghĩ và đầu óc tràn ngập những ý tưởng mới
mẻ. Đột nhiên, ông như người vừa choàng tỉnh giấc: có tia lửa điện phát ra là một loại tín hiệu,
không có tia lửa điện phát ra cũng là một tín hiệu, khi không có tia lửa điện phát ra một quãng
thời gian dài thì đó cũng lại là một tín hiệu. Vẫn là ba loại tín hiệu này nhưng lại có thể có rất
nhiều kiểu kết hợp khác nhau giữa chúng và mỗi một kiểu kết hợp khác nhau đó có thể biểu
trưng cho một con số hoặc một chữ cái. Như vậy là chỉ cần dùng một sợi dây điện, bằng cách
cho dòng điện chạy qua hoặc ngắt dòng điện, chúng ta có thể truyền được tin tức.
Từ hướng suy nghĩ này, Morse tiếp tục nghiên cứu, vượt qua rất nhiều khó khăn. Cho đến năm
46 tuổi, ông chế tạo thành công chiếc máy điện báo truyền phát tín hiệu đầu tiên trên thế giới.
Thế là những tưởng tượng về máy điện báo của Morse đã trở thành hiện thực.
Tìm tòi và suy ngẫm
Sau này lớn lên bạn muốn làm gì? Bạn có hiểu vì sao Morse bỏ sự nghiệp hội hoạ đang rất có
triển vọng của mình để quay sang môn Điện học - môn học mà ban đầu ông còn chưa có một
chút hiểu biết nào hết?
Khi ở với bố mẹ hoặc lúc cùng chơi với các bạn khác, đã lúc nào bạn cảm thấy bị lôi cuốn bởi
một việc gì hay một vật gì chưa, chẳng hạn như Morse cảm thấy rất tò mò với màn biểu diễn
ảo thuật của chàng thanh niên nọ? Khi bạn thấy rất tò mò về một điều gì đó, bạn có thắc mắc
và cố gắng tìm xem tại sao mình lại thích thú điều đó đến thế không?
NHÀ HOÁ HỌC TRẺ TUỔI MOSELEY
Nhà hoá học Moseley khi còn nhỏ vốn rất say mê thiên nhiên, yêu mến các loài động vật, nhất
là loài chim. Mọi người thường gọi Moseley là “nhà bác học nhỏ tuổi”. Lúc ấy, Moseley chưa
từng bao giờ nghĩ rằng, sau này mình lại đi theo con đường nghiên cứu Hoá học.
Lớn lên, Moseley thi vào Trường đại học Oxford. Hồi đó, các sinh viên thường hay tổ chức tới
thăm và trò chuyện với các nhà khoa học danh tiếng. Cũng như các sinh viên khác, một lần,
Moseley đã tới thăm nhà khoa học nổi tiếng Rutherford. Ông Rutherford tiếp đón Moseley hết
sức thân mật. Trong cuộc nói chuyện, ông nhận thấy ở Moseley có một nền tảng tri thức vững
vàng, rất có năng lực để phát triển. Sau này, khi Moseley tốt nghiệp đại học, nhà khoa học
Rutherford đã mời anh tới làm việc trong phòng thí nghiệm của mình.
Sau khi tốt nghiệp đại học, xuất phát từ lòng kính trọng đối với một nhà khoa học và cũng từ sự
hiếu kì của bản thân, Moseley đã đến phòng thí nghiệm của ông Rutherford để làm việc. Khi đó,
anh nghĩ rằng, các môn khoa học tự nhiên vốn gắn bó mật thiết với nhau, đến làm việc ở phòng
thí nghiệm để học hỏi thêm một số kiến thức về hoá học thì cũng có ích cho việc nghiên cứu
động vật học sau này…
Thật không ngờ, vốn chỉ có ý định học hỏi thêm một chút kiến thức ngoài chuyên ngành,
nhưng ngay từ khi bắt đầu, công việc ở phòng thí nghiệm của ông Rutherford đã thực sự lôi
cuốn Moseley hơn anh nghĩ. Một thời gian sau, Moseley nhận ra rằng, hoá học, mới là công việc
của cuộc đời anh, những đam mê và khát vọng thành công trong nghiên cứu hoá học mới là sự
lựa chọn đúng đắn nhất đối với anh!
Từ đó, Moseley hoàn toàn “bị môn Hoá học chinh phục”. Anh dốc hết tâm sức cho công việc
nghiên cứu hoá học và dần dần thu được nhiều thành công đáng kể. Mỗi ngày, anh đều làm việc
ở phòng thí nghiệm từ sáng đến tận đêm khuya, đặc biệt là những lúc ở giai đoạn quan trọng
của một nghiên cứu hay một thực nghiệm, anh làm việc thâu đêm.
Làm việc miệt mài, không một phút nản lòng, về sau, Moseley đã phát hiện định luật mang tên
anh - định luật giải thích về tác dụng quan trọng của quy luật tuần hoàn nguyên tố hoá học,
trong đó đề xuất tư tưởng: tính chất nguyên tố bị quyết định bởi số nguyên tử, từ đây, định luật
tuần hoàn nguyên tố hoá học đã được thiết lập trên cơ sở khoa học. Đồng thời, những phát
hiện của Moseley còn bổ sung quan trọng những nguyên tố mới, những nguyên tố từng được
dự đoán trong bảng tuần hoàn Mendeleev, kèm theo những luận cứ lí luận chính xác, mẫu mực.
Trong thời gian nghiên cứu vỏn vẹn 4 năm, Moseley đã có những cống hiến đáng kinh ngạc. Tất
cả những ai đã từng quen biết Moseley đều phải thừa nhận rằng, anh sẽ còn đi xa hơn nữa trên
con đường nghiên cứu khoa học.
Thế nhưng, không lâu sau đó, Moseley phải nhận lệnh nhập ngũ, lên đường ra trận tuyến của
cuộc Chiến tranh thế giới thứ I. Trong cuộc chiến ấy, Moseley đã hi sinh ở tuổi 27. Đây thực sự
là một tổn thất vô cùng nặng nề đối với nền khoa học thế giới cũng như với toàn nhân loại.
Tìm tòi và suy ngẫm
Các bạn nghĩ thế nào nếu như Moseley không qua đời quá sớm? Anh sẽ tiếp tục có những cống
hiến to lớn hơn cho khoa học thế giới?
Moseley và cả Kekulé hay Morse trong những câu chuyện trước, đều có thể phát huy tài năng
của mình trên các lĩnh vực khoa học khác. Các bạn nghĩ vì sao sau khi tiếp cận với hoá học và
vật lí thực nghiệm, họ lại thay đổi hướng phát triển sự nghiệp của bản thân? Các bạn hãy liên
hệ với bản thân mình, hãy thử nghĩ về cảm giác của mình khi bạn đang làm một thí nghiệm
khoa học nhỏ!
CÂU HỎI DÀNH CHO BỐ MẸ
Trong rạp chiếu phim có 4 ghế ngồi, 4 người được tuỳ ý lựa chọn ghế ngồi. Vậy sẽ có bao nhiêu
cách xếp chỗ ngồi cho 4 người vào 4 chiếc ghế đó?
Đáp án: 24 cách.
ĐI TÌM LỜI GIẢI ĐÁP
Các bạn đã bao giờ thử chế tạo ra một cái gì đó chưa? Bạn đã từng làm được một cái máy gì đó
chạy bằng sức gió chưa?
Bây giờ, bạn có thể kể tên ít nhất 5 nhà khoa học lớn không? Mỗi tên của một nhà khoa học mà
bạn kể được, bạn hãy tự thưởng cho mình một bông hoa màu đỏ nhé!
GÓC VUI SÁNG TẠO
Nếu như tất cả những lời nói dưới đây đều sai thì theo bạn, ai là người làm vỡ bình hoa?
Mạch nói: “Là Lệ đã đánh vỡ bình hoa”.
Minh nói: “Mạch sẽ nói cho bạn biết ai đánh vỡ bình hoa”.
Ngải nói: “Minh, Mạch và tớ không có khả năng là người đã làm vỡ bình hoa”.
Lực nói: “Tớ không làm vỡ bình hoa”.
Khắc nói: “Là Mạch làm vỡ bình hoa, cho nên bạn Minh và bạn Ngải đều không có khả năng là
người làm vỡ bình hoa”.
Cát nói: “Là tớ làm vỡ bình hoa, tất cả các bạn khác đều không có lỗi”.
Đáp án Góc vui sáng tạo: Chính là Lực đã làm vỡ bình hoa. Bởi vì, điều kiện nêu ra là “tất cả
những lời nói được đưa ra đều sai”. Khi Lực nói “Mình không làm vỡ bình hoa”, Lực đã nói sai
nên Lực chính là người làm vỡ bình hoa. Ngải nói Minh, Mạch và Ngải không có khả năng làm
vỡ bình hoa, Khắc nói Minh và Ngải đều không có khả năng làm vỡ bình hoa, Ngải và Khắc nói
sai nên cả Minh, Mạch và Ngải đều chỉ có khả năng làm vỡ bình hoa mà thôi, điều này không
khẳng định được rằng một trong mấy bạn đó ai là người chắc chắn đã làm vỡ bình hoa. Vì vậy,
ở đây chỉ có Lực là người đã làm vỡ bình hoa!
NHỮNG PHÁT MINH TÁC ĐỘNG TỚI CUỘC
SỐNG THƯỜNG NGÀY CỦA CHÚNG TA
PHÁT MINH RA MÁY ẢNH
Chắc là các bạn đều đã từng chụp ảnh. Nhưng các bạn ngày xưa, nếu muốn lưu lại hình ảnh của
mình thì chỉ có một cách duy nhất là mời hoạ sĩ đến, ngồi bất động nửa ngày để làm mẫu cho
họ vẽ. Còn chúng ta bây giờ thì khác hẳn, chỉ cần có máy ảnh trong tay, “tách” một cái là đã ghi
lại được hình ảnh rất đẹp của mình rồi!
Hồi đầu thế kỉ XIX, Joseph Niépce và Louis Jacques Mandé Daguerre, người Pháp, đã tình cờ
gặp nhau vì cùng chung niềm đam mê với kĩ thuật chụp ảnh. Từ đó, hai ông đã trở thành đôi
bạn thân thiết và cùng hợp tác nghiên cứu. Các ông đã đem bột nhựa đường trộn với dầu cỏ oải
hương (một loài cỏ thơm, lá hẹp, thường dùng làm nguyên liệu sản xuất nước hoa), sau đó vảy
dung dịch này lên mặt tấm kẽm chụp ảnh (về sau, tấm kẽm được cải chế thành phim ảnh). Sau
khi để khô, tấm kẽm được phơi sáng một thời gian lâu trong phòng tối chuyên dụng của chụp
ảnh. Lấy ra từ phòng tối, lại đưa tấm kẽm vào dung dịch hỗn hợp bột nhựa đường và dầu cỏ oải
hương lần thứ hai. Kết quả là, ở những chỗ không nhạy cảm với ánh sáng, nhựa đường bị hoà
tan, còn với những chỗ nhạy cảm với ánh sáng, nhựa đường bị giữ lại trên bề mặt tấm kẽm và
lờ mờ hiện lên ảnh vật (hình ảnh của vật). Mặc dù ảnh vật còn mờ nhưng ít nhất thì chúng đã
không bị mất đi hoàn toàn dưới tác động của bức xạ ánh sáng. Và như thế, một tấm ảnh được
ra đời.
Tuy nhiên, Niépce và Daguerre đều chưa hài lòng với kết quả này. Để có thể tạo ra những tấm
ảnh rõ nét hơn, các ông tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi. Các ông đã sử dụng nhiều loại dầu và
nhiều loại bản kim loại khác nhau để thực nghiệm. Công việc còn dang dở, tấm ảnh sắc nét như
mong muốn vẫn chưa chế tạo thành công thì thật bất hạnh, Niépce mắc bệnh nặng và qua đời.
Daguerre vô cùng thương tiếc người bạn, người đồng nghiệp thân thiết của mình và ông càng
quyết tâm hoàn thành mơ ước của hai người.
Một hôm, như mọi khi, Daguerre phun hơi Iốt lên mặt bản kim loại mạ bạc và đặt bản kim loại
vào phòng tối. Ba tiếng sau, ông lấy bản kim loại ra, đặt nó vào trong hộp đựng nhiều loại dược
phẩm khác nhau. Sáng hôm sau, khi Daguerre mở hộp lấy tấm kim loại ra xem thì thật là kinh
ngạc, trên mặt bản kim loại mạ bạc đã hiện thật rõ nét hình ảnh sự vật. Tự mình đặt ra nhiều
câu hỏi, Daguerre suy nghĩ rất lâu, ông cho rằng, hẳn phải có một loại dược phẩm nào đó tác
động làm cho ảnh vật được hiện rõ nét như vậy. Ông bèn bắt tay vào nghiên cứu tỉ mỉ từng loại
dược phẩm, cuối cùng đã phát hiện ra đó chính là nhờ tác dụng của hơi thuỷ ngân. Đây chính là
phát minh của Daguerre - làm ảnh nhờ vào việc sử dụng hơi thuỷ ngân. Kĩ thuật làm ảnh này
sau đó được gọi là “phép chụp hình ngân bản” hay “phép chụp hình Daguerre”.
Không lâu sau, phát triển hướng nghiên cứu này, Daguerre tìm được phương pháp làm ảnh
nhanh và hiệu quả hơn, đồng thời kết hợp với kĩ thuật định ảnh và các chất liệu giấy ảnh
đương thời, Daguerre đã chế tạo ra chiếc máy ảnh đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Mặc dù,
chiếc máy ảnh này rất nặng nề và chỉ có thể chụp được hình khi đủ ánh sáng mặt trời nhưng so
với bức vẽ từng nét, từng nét trên giấy, phải thừa nhận rằng, đây là một bước tiến lớn lao. Cùng
với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật hiện đại, chiếc máy ảnh ngày nay
đã trở nên gọn nhẹ, tiện dụng và còn có nhiều tính năng ưu việt khác nữa.
Tìm tòi và suy ngẫm
Bạn đã bao giờ sử dụng một chiếc máy ảnh chưa? Bạn hãy nhờ bố mẹ hoặc anh chị dạy cho
cách chụp ảnh nhé! Và tại sao bạn lại không thể cầm máy ảnh chụp cho bố mẹ và mọi người
trong gia đình những tấm ảnh thật đẹp nhỉ?
Bạn hãy nghĩ xem tại sao chiếc máy ảnh đầu tiên chỉ có thể chụp hình được khi có đủ ánh sáng
mặt trời?
“LÀM CHO MÂY BIẾT GIEO HẠT”
Vào những năm 40 của thế kỉ XX, chàng thanh niên Schaefer cùng thầy giáo của mình - nhà
khoa học người Mĩ Langmuir đã đi thực nghiệm tại vùng núi đầy tuyết phủ. Ở đó, họ phát hiện
ra rằng, nhiệt độ của các tầng mây xung quanh thường xuyên thấp hơn “điểm đông” (tức là
nhiệt độ mà một chất lỏng bị đóng băng) nhưng lượng nước trong các đám mây thì không hề
đóng băng, mà cũng chưa tạo thành mưa hoặc tuyết. Hiện tượng kì lạ này đã thu hút sự chú ý
đặc biệt của Schaefer.
Khi ấy, mọi người vẫn chưa hiểu rõ nguyên nhân căn bản của hiện tượng hình thành mưa và
tuyết. Vì thế, Schaefer đề xuất với thầy Langmuir: “Thưa thầy, nếu như chúng ta có thể hiểu rõ
điều kiện và nguyên nhân của hiện tượng hình thành mưa và tuyết thì lẽ nào lại không thể làm
ra mưa nhân tạo?”.
Thầy Langmuir rất tán thành ý tưởng này, và Schaefer bắt đầu cuộc tìm kiếm lời giải đáp cho ý
tưởng của mình. Anh thực hiện thí nghiệm bằng một loại máy tạo ra khí ẩm lạnh như trong các
đám mây, nhưng vẫn không thu được kết quả.
Một ngày trời vô cùng nóng bức, Schaefer vẫn cặm cụi làm việc với cái máy tạo khí ẩm lạnh. Đã
tới giờ ăn trưa, như thường lệ, Schaefer mở nắp tủ làm băng và để đó đi nghỉ. Sau bữa trưa,
Schaefer trở lại làm việc. Khi kiểm tra tủ làm băng, anh bỗng phát hiện thấy nhiệt độ của tủ
đang tăng lên. Vì sao nhiệt độ của tủ làm băng lại tăng? Schaefer suy nghĩ hồi lâu, bỗng nhiên
hiểu ra căn nguyên: Do tủ làm băng không được đậy nắp, cho nên khi có tác động của không khí
nóng xung quanh sẽ làm cho tủ làm băng tăng nhiệt độ.
Để tiếp tục thí nghiệm theo hướng này thì cần phải làm sao để nhiệt độ giảm mạnh và nhanh.
Schaefer bèn cho thêm vào máy làm lạnh một số khối băng. Trong lúc đang cho khối băng đó
vào máy làm lạnh, anh bỗng hắt hơi. Sự vô tình ấy dẫn đến một hiện tượng kì lạ: Bên trong máy
làm lạnh, từ luồng hơi vừa hắt ra từ miệng anh, có thể nhìn thấy rất nhiều những hạt lấp lánh,
nhỏ li ti. Schaefer hiểu ngay vấn đề: Những hạt lấp lánh, nhỏ li ti chính là các tinh thể băng. Anh
tiếp tục hà hơi về phía máy làm lạnh và cho thêm vào nhiều băng khô, thế là những tinh thể
băng biến thành những bông tuyết nhỏ xíu, bay phất phới.
Lúc này, Schaefer vô cùng phấn chấn và xúc động. Anh nói với thầy Langmuir: “Em đã làm
được những bông tuyết nhân tạo!”.
Thầy Langmuir cũng rất vui mừng trước thành quả của Schaefer, ông nói: “Như thế là chúng ta
đã có thể làm được tuyết nhân tạo, nhưng đây mới là trong phòng thí nghiệm, chúng ta cần
phải tiến hành thí nghiệm trong không trung nữa”.
Schaefer và thầy Langmuir vô cùng sốt ruột chờ đợi tới tháng 11 lạnh giá để thử nghiệm “làm
những bông tuyết nhân tạo”. Hôm đó, trời rất lạnh, có mây nhưng không có tuyết. Schaefer lái
một chiếc máy bay, bay cao lên tầng mây, sau đó thả từ máy bay xuống rất nhiều băng khô.
Thầy Langmuir đứng dưới mặt đất quan sát hết sức tập trung. Và bỗng nhiên, ông nhìn thấy vô
số bông tuyết li ti từ trên trời bay phất phới trong không trung. Những bông tuyết rơi xuống
đất thì biến thành những giọt nước. Thầy Langmuir không giấu nổi niềm vui sướng và xúc
động: “Schaefer! Thành công rồi! Chúng ta đã thành công thật rồi!”.
Vậy là Schaefer đã phát minh ra cách dùng băng khô để tạo ra mưa, tuyết nhân tạo. Thuật “hô
mưa gọi gió” trong các câu chuyện cổ tích xa xưa bây giờ đã trở thành hiện thực! Về sau, vì sự
ngưỡng mộ phát minh này, người ta đã gọi đây là “làm cho mây biết gieo hạt”.
Tìm tòi và suy ngẫm
Bạn có biết mưa được hình thành như thế nào không?
Ngày nay, phương pháp làm mưa nhân tạo đã tiến bộ hơn, bạn có biết người ta làm thế nào
không?
SÓNG TRONG KHÔNG TRUNG
Thế kỉ XIX, điện học còn là một môn khoa học mới phát triển. Không chỉ các nhà khoa học mà
tất cả mọi người đều rất quan tâm đến môn khoa học mới này. Từ năm 1887, nhà vật lí học
Hertz đã chứng minh được sự tồn tại của sóng điện từ. Sau đó, tiếp thu và phát triển những
thực nghiệm của Hertz, Marconi - một kĩ sư người Italia, đã có ý tưởng nghiên cứu sóng điện từ
để dùng nó truyền phát điện báo vô tuyến (không dây). Để hiện thực hoá ý tưởng của mình,
Marconi đến thư viện và tìm đọc rất nhiều tài liệu có liên quan cần thiết rồi bắt đầu đi vào
nghiên cứu tỉ mỉ.
Qua một thời gian dài nghiên cứu, Marconi đã làm ra một chiếc máy - một chiếc máy không chỉ
nhận được sóng điện từ mà còn có khả năng phát chuông. Sau đó, Marconi còn lắp một máy
phát trên đường điện truyền của máy điện báo, chỉ cần ấn nút điện thì nó sẽ tạo ra những tia
lửa điện. Marconi mang hai thiết bị này đặt ra ngoài khoảng không của khu trang trại của
mình. Ông thử nhấn nút điện, khi đó, máy phát trên đường điện truyền của máy điện báo lập
tức sản sinh ra sóng điện từ, sóng này tác động làm chuông điện ở máy nhận kêu lên tiếng
“reng”.
Kết quả này thật đúng là điều mà Marconi đang mong đợi. Ông cho điều chỉnh khoảng cách
giữa hai thiết bị để xác định cự li thích hợp nhất. Marconi được khích lệ rất nhiều vì thành công
thực sự không còn xa. Nhờ những cố gắng không ngừng để cải tiến cả hai loại thiết bị, cự li phát
- nhận tín hiệu giữa hai thiết bị ngày càng được dãn xa hơn, độ nhạy cảm của máy cảm ứng
ngày càng cao hơn.
Vậy là, sau nhiều năm chuẩn bị, cuối cùng cũng đến lúc ông công bố thành quả lao động.
Marconi gửi giấy mời tới nhiều người với nội dung: tới xem “sự truyền phát và thâu nhận tín
hiệu điện báo không dây (vô tuyến điện báo)”. Rất nhiều người mang theo sự bán tín bán nghi
tới “buổi biểu diễn” của Marconi. “Buổi biểu diễn” của Marconi diễn ra trên hội trường tầng
cao của toà nhà tổng cục Bưu chính Luân Đôn. Marconi mời một khán giả viết ra mẩu giấy một
đoạn văn ngắn, sau đó theo cách đánh điện báo của Morse, ông đã thực hiện truyền tín hiệu
bằng máy điện báo vô tuyến (không dây) do ông chế tạo. Sau đó, ông cùng những người chứng
kiến đi tới tầng chót của một toà nhà khác cách đó chừng 1km. Lúc này, người giúp việc của
Marconi, bằng thiết bị thâu nhận tín hiệu đã nhận được mẩu tin mà ông gửi đi từ toà nhà tổng
cục Bưu chính Luân Đôn. Tất cả những người chứng kiến đều vô cùng sửng sốt và thán phục.
Marconi tràn ngập vui sướng và xúc động, ông tuyên bố với mọi người: “Đây là sức mạnh thần
kì của khoa học!”.
Kết nối tri thức
Phát minh ra vô tuyến điện và điện thoại đều là những thành tựu của chuyên ngành Điện học
trong bộ môn Vật lí. Vật lí học là một môn khoa học tự nhiên chuyên nghiên cứu những tính chất
tương quan về mặt quang (ánh sáng), thanh (âm thanh), nhiệt, lực…của các vật thể. Các chuyên
ngành chủ yếu của Vật lí học bao gồm Lực học, Điện học, Thanh học, Quang học, Nhiệt học và Từ
học…
Tìm tòi và suy ngẫm
Tại sao trước khi có phát minh của Marconi, tín hiệu điện báo truyền phát và thu nhận lại được
gọi là tín hiệu Morse? (Bạn còn nhớ câu chuyện Sự thay đổi của Morse không?).
Trong quá trình nghiên cứu về máy điện báo, nhà khoa học người Mĩ Alexander Graham Bell đã
phát minh ra máy điện thoại. Còn Guglielmo Marconi, trên nền tảng máy điện báo, đã phát
minh ra vô tuyến điện. Hai nhà khoa học dựa trên cùng một nền tảng tr...
 





