Học liệu điện tử

Video - Thí nghiệm thực hành

Thống kê bạn đọc

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    9456fe40364d9167df75ae7b1c785753.jpg Sodotuduytoan9chuong1hinhhoc2.png Maxresdefault_1.jpg

    Liên thông thư viện

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NINH PHONG - NINH BÌNH💕💕

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862- 1975

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Huy Lượng
    Ngày gửi: 16h:53' 01-07-2025
    Dung lượng: 2.2 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Lịch Sử Nhà Tù Côn Đảo (1862 - 1975)
    Tác giả: Nhiều Tác Giả
    Nhà xuất bản: Nxb Tổng hợp TP.HCM
    Định dạng: Bìa cứng
    Ngày phát hành: 01/2010
    Giá bìa: 120.000 ₫

    Số trang: 700 trang
    Nguồn text: Giangtvx (quansuvn.net)
    Epub (02/2019): @lamtam, tve-4u.org


    https://thuviensach.vn

    GIỚI THIỆU

    Cuốn sách là bức tranh toàn cảnh về cuộc đấu tranh ở Côn Đảo qua các
    thời kỳ, là khúc hùng ca trong thiên anh hùng ca vĩ đại của dân tộc trong
    cuộc chiến chống thực dân, đế quốc để giành độc lập tự do.
    Nhà tù Côn Đảo từ cuối thế kỷ 19 luôn luôn phản ánh cuộc đấu tranh
    cách mạng của nhân dân qua các giai đoạn, bởi lẽ địch giam ở đây những
    chiến sĩ cách mạng mà chúng cho là nguy hiểm nhất ở khắp các miền của
    đất nước.

    https://thuviensach.vn

    LỜI TỰA CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN GIÀU

    (Viết riêng cho cuốn Nhà tù Côn Đảo 1955-1975)
    Tôi được bạn bè yêu cầu viết tựa cho sách, rất nhiều lần, nhưng lần này,
    giới thiệu tập “Lịch sử Nhà tù Côn Đảo 1955-1975” tôi lo quá; đọc một lần
    đã thấy lo đọc hai lần càng thấy lo. Lo không giới thiệu được nội dung cơ
    bản của tập sử, nội dung cơ bản ấy là cực kỳ sâu sắc, bởi hàm ý những sự
    việc và nhân cách của những con người được kể ở trong sách.
    Những sự việc và con người được ghi lại một cách khách quan, khoa
    học, đáng là đề tài vô tận của một thiên anh hùng ca mà có lẽ khó có một
    nhà thơ nào ở nước ta và cả trên thế giới tìm ra ở trong trí tương tượng
    thâm viễn của mình. Trong trường hợp này, một bài giới thiệu của một thầy
    giáo lịch sử như tôi chỉ có thể là một lời mời đọc, đọc để rồi đọc lại, đọc đi
    đọc lại để mà suy gẫm, suy gẫm về đạo làm người chiến sĩ yêu nước yêu
    dân, suy gẫm về con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, khi đứng
    trước cảnh ngộ thiên nan vạn nan, khi đứng trên bờ vực giữa cái sống và
    cái chết, giữa cái vinh không cần ai biết và cái nhục mà chính mình cảm
    thấy hơn ai hết. Tập sách “Lịch sử Nhà tù Côn Đảo 1955-1975” thực tế là
    một quyển sách đạo đức học, một quyển triết học.
    Trong đời hoạt động cách mạng của mình, tôi đã phải trải qua nhiều nhà
    tù, trong số đó có ngục Côn Lôn. Tôi lại được đọc nhiều sách xưa nay nói
    về nhà tù của các vua chúa, của tư bản thực dân, của bè lũ phát xít. Như
    vậy, tôi có khá nhiều tài liệu để so sánh các chế độ nhà tù tàn bạo, thì các
    nhà tù đó cái nào cũng tàn bạo, chỉ có mức tàn bạo, cách tàn bạo và mưu
    sâu bên trong là khác nhau. Cho đến trước khi Hồng quân Liên Xô cắm cờ
    chiến thắng trên nóc nhà quốc hội Berlin, thì nhà tù của Hitler là tàn bạo
    nhất, với ý nghĩa chính là giết nhiều người nhất: hàng triệu, hàng triệu dân
    Do Thái bị giết bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật. Nói ra thì có lẽ không

    https://thuviensach.vn

    phải, nhưng cái chết bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật, giết một lần hàng
    vạn sinh linh, cái chết đó người chiến sĩ tù nhân Việt Nam mình có mấy ai
    sợ đâu? So với cái tàn ác ở nhà tù Côn Đảo dưới chế độ Mỹ ngụy, thì nhà tù
    Hitler giống như ao cạn so với vực thẳm. Mỹ ngụy thâm độc hơn Hitler biết
    bao nhiêu! Nhà tù Côn Lôn thời Pháp thuộc đã là địa ngục ở trần gian rồi,
    đến thời Mỹ ngụy, là địa ngục trong địa ngục, và nói như vậy cũng chưa
    vừa.
    Bị đày ra Côn Lôn (1935), khi ấy tôi từng bị tống ngay vào xà lim số 1,
    xà lim này rộng 3 x 3 x 1,5 mét, còng một chân. Mà trời ơi, làm sao so
    được với thời Mỹ ngụy cũng trong cái xà lim đó , Mỹ ngụy nhốt tới 28
    người, cửa đóng, lỗ thông hơi bịt kín, tù nhân lại còng tréo 2 tay và 2 chân.
    Dưới thời thực dân Pháp, tụi tôi ở Banh I bãi thực chống ăn khô mục, cuộc
    đấu tranh dài nhất là 9 ngày, bị đánh một lần suốt buổi bằng mấy cần xé
    mây cà dông đến mây tả tơi ra. Vụ Tôn Đức Thắng ở trong số đồng chí bị
    khủng bố hôm ấy, lưng mỗi người bầm tím 100%.
    Vậy mà so với anh em bị biệt giam thời Mỹ ngụy, cũng ở đây, thì có
    “thấm” gì? Nhiều lần anh em bãi thực đòi ăn cơm có rau, mà phải bãi thực
    đến 20 ngày, một tháng, 60 ngày và hơn nữa, bọn chúa ngục lại đập bể các
    lu nước, bao: “Để bây chết đói và chết khát cho trọn”'. Mà, đã yên để
    không ăn không uống đâu, ngày ngày chúng vào khám, đánh tù nhân đấu
    tranh bằng củi đòn, củi chẻ; mây càdông đánh mãi thì tả tơi, củi đòn củi chẻ
    đánh mãi không mòn, chỉ có sọ vỡ, thịt nát mà thôi!
    Đã vậy, ở Chuồng Cọp, bọn gác dang, giám thị còn ban ngày thì đánh,
    ban đêm thì phân công nhau, đứng trên dội nước lạnh xuống, 10 đêm, 20
    đêm, 30 đêm như thế, liên tục, thân xác con người nào mà chịu nổi?
    Vậy mà chiến sĩ biệt giam cộng sản ở Chuồng Cọp Côn Lôn chịu nổi, thà
    chết, không hàng!
    Hành hạ một cách tàn ác như vậy, để làm gì?
    Có phải để thỏa mãn cái thú tính cửa bọn Mỹ ngụy và những quỷ sứ tay
    sai của chúng nó chăng?

    https://thuviensach.vn

    Không Cốt để cho các chiến sĩ cách mạng phải:
    1. Chịu ký tên “ly khai Đảng Cộng sản”;
    2. Hô lên “đả đảo Hồ Chí Minh”!
    Chỉ cần hạ bút ký tên và mở miệng hô năm tiếng thì khỏi còng, khỏi củi
    chẻ, khỏi bị xối nước lạnh. Có bạn đã nhận thức đúng, hết sức đúng, rất sâu
    sắc rằng:
    “Hành hạ người tù đau đớn tột cùng về thể xác, truy bức người tù căng
    thẳng tột độ về tâm lý, dai dẳng và trường kỳ, chúng đẩy người tù đến bên
    miệng hố của tử thần, để họ day dứt, trăn trở, chết dần chết mòn từng giờ,
    từng phút. Song cứ mỗi lần họ hấp hối, họ tỉnh dậy, họ thề với lương tâm
    một lần nữa quyết chết cho lý tưởng, chết để vẹn toàn khí tiết, thì chúng nó
    lại nhượng bộ một chút, nới ra một tí, cho họ ăn uống trở lại, sinh hoạt bình
    thường để họ khát khao sự sống. Chập chờn giữa ranh giới mong manh của
    sự sống và cái chết hàng chục lần, hàng trăm lần như vậy, thì tư tưởng, tâm
    trạng con người luôn luôn căng thẳng, dễ dao động, chẳng khác gì một thỏi
    thép quẳng vào lò, nung đỏ lên rồi quăng xuống nước cho nó biến dạng, rạn
    nứt. Bọn cải huấn, công an, mật vụ, tâm lý chiến chực sẵn để chộp lấy
    những giây phút dao động, mềm yếu của tù nhân mà đánh tiếp những đòn
    tiến công khác”.
    Hiểm độc và tàn bạo, càng tàn bạo càng hiểm độc của Mỹ ngụy và tay
    sai là như thế.
    Cho nên, đã không ít tù chính trị sau bao nhiêu cuộc giao tranh bị thất
    bại, bị khuất phục trước những ngón đòn tàn bạo và hiểm độc ấy. Hàng
    ngàn người ở nhà tù Côn Đảo trở về với tấm thân tàn phế, quằn quại cho
    đến chết, chết trong ân hận đã lỡ bước sa cơ.
    Nhưng số đông tù chính trị, nếu bị khuất phục thì ấy là khuất phục tạm
    thời ngoài mặt để giư lấy mạng sống, hòng có ngày chiến đấu phục thù.
    Một số khác, không ít người, sống lại, chết đi hàng chục lần mà vẫn
    không khuất phục. Trong cuộc chiến đấu dài 20 năm này ( 1955-1975),
    trong cuộc đấu tranh liên tục, thiên hình vạn trạng này, giữa tàn bạo có vũ

    https://thuviensach.vn

    khí tận răng và chính nghĩa giải phóng ở trong thế tay chân bị còng, chỉ còn
    khí tiết và lý tưởng là vũ khí, thì rốt cuộc phần thắng đã về ai?
    Kỳ diệu thay mà cũng là tất yếu thay, như lời của Nguyễn Trãi tạc trên
    bia đá Lam Sơn, yếu thắng mạnh, ít thắng nhiều, chí nhân thắng cường bạo.
    Trong trường hợp cuộc đấu tranh rung động trăng sao, ở Côn Đảo từ 1955
    đến 1975, khí tiết cộng sản đã thắng cường quyền và mưu ma chước quỷ
    của Mỹ ngụy. Những “ngôi sao” của biệt giam Chuồng Cọp hãy còn sống
    và hãy còn giương cao ngọn cờ Hồ Chí Minh, kẻ địch không có cách nào
    hạ nổi! Ngọn cờ ấy, thực tế vẫn là ngọn cờ của hầu hết anh em đã gặp phải
    lúc sa cơ mà ở đáy lòng không bao giờ có ý “ôm cầm thuyền ai”, đông đảo
    trở lại hàng ngũ đấu tranh. Ngọn cờ ấy lại là tiêu biểu ở Côn Đảo, xứng
    đáng với ý chí toàn dân Việt Nam đang quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, ngụy
    nhào”.
    Tôi đồng tình với người viết sách “Lịch sừ Nhà tù Côn Đảo 1955-1975”
    tuyên dương tinh thần đấu tranh trực diện chống li khai của tù chính trị câu
    lưu Trại I, của tù án chính trị chống chào cờ ngụy với những tấm gương
    sáng tiêu biểu như Cao Văn Ngọc, Lưu Chí Hiếu, Trần Trung Tín; tuyên
    dương sự bền bỉ chiến đấu vô song của “Năm ngôi sao tù chính trị câu lưu”,
    của “Sáu ngôi sao tù án chính trị”. Tôi thành thật khâm phục, xin cúi đầu
    trước ông già Cao Văn Ngọc vốn làm chức hương quản làng dưới thời
    Pháp, theo cách mạng từ mùa thu 1945; ông chỉ là thư ký nông hội xã; ông
    không phải là đảng viên cộng sản mà kiên quyết đến cùng, đấu tranh chống
    ly khai Đảng, chống hô khẩu hiệu đả đảo Cụ Hồ .
    – Chúa ngục hỏi: “Ông không phải là đảng viên cộng sản, ông mắc nợ gì
    với Hồ Chí Minh mà không chịu hô đả đảo” .
    – Già Ngọc bình tĩnh đáp: “Tôi mắc nợ Cụ Hồ Chí Minh đã đem lại độc
    lập tự do cho nước Việt Nam”.
    Tôi khâm phục người thợ giày Lưu Chí Hiếu, lưu lạc từ Nam Định ra Hà
    Nội, vào Sài Gòn, tham gia khởi nghĩa và kháng chiến, chức vụ chỉ tương
    đương tiểu đội trưởng, nhưng lại thể hiện xuất sắc bản lĩnh người cộng sản,
    quyết tử chống li khai trong lần quyết định vận mệnh của cuộc chiến đấu
    https://thuviensach.vn

    vào lúc hiểm nghèo, tên anh đã trở thành một ngọn cờ của tù nhân chính trị
    toàn đảo.
    Đó là thứ “Vàng trong lửa”, đó là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách
    mạng, cua nhân cách Việt Nam, của khí tiết cộng sản.
    Mong rằng các vị anh hùng ở nhà tù Côn Đảo được ca tụng xứng đáng
    nhất bằng những tập sách gối đầu giường cho thanh niên, được biểu dương
    xứng đáng nhất bằng những pho tượng đặt ở quê hương và ở các nhà
    trường.
    Mong rằng các sự tích ở Côn Lôn, từ thuở Pháp biến nó thành nơi lưu
    đày tù chính trị cho đến thời 1955-1975, được ghi tạc chẳng những bằng
    tượng, bằng tranh vẽ và tranh điêu khắc mà còn được phổ biến rộng rãi
    bằng những cuốn phim. Tất cả những công việc đó của nhà làm lịch sử và
    làm văn nghệ đều nhằm để lại cho các thế hệ những tấm gương sáng ngời
    của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
    Sau hết, tôi như là một thầy giáo có nghiên cứu lịch sử xin hoan nghênh
    các tác giả Lịch sử Nhà tù Côn Đảo đã có công sưu tầm tư liệu, “nói có
    sách, mách có chứng”, đã chú ý đến việc hết sức cần thiết là gặp từng cựu
    tù quan trọng nào có thể gặp được, chép từng bản lý lịch, ghi từng chuyện
    kể; bằng cách đó, tác giả lưu giữ, tập hợp được một số lượng lớn tư liệu
    cho bản thân mình, còn viết nhiều về Côn Đảo, có thể là viết cả đời những
    ai là bạn đồng hành, văn nhân hay nghệ sĩ, trong sự nghiệp tái hiện cái địa
    ngục trần gian - “ngục Côn Đảo”.
    Giáo sư Sử học
    TRẦN VĂN GIÀU

    https://thuviensach.vn

    Mở Đầu:

    VÀI NÉT VỀ ĐỊA LÝ VÀ

    LỊCH SỬ QUẦN ĐẢO CÔN LÔN

    Thiên nhiên Côn Đảo
    Côn Lôn là một trong những quần đảo tiền tiêu của nước ta, “nguy nga
    đứng trấn giữa biển Đông” (Đại Nam nhất thông chí), bao gồm 16 hòn đảo
    lớn nhỏ, với tổng diện tích là 76,71km2, trải ra trên một vùng biển có tọa
    độ địa lý từ 106°3' đến 106°45' kinh độ đông; từ 8°34' đến 8°49' vĩ độ
    bắc(1), cùng một kinh độ với Thành phố Hồ Chí Minh và cùng một vĩ độ
    với thị trấn Năm Căn (Cà Mau).
    Đường biển từ Côn Lôn đến Vũng Tàu dài 179 km, đến Thành phố Hồ
    Chí Minh 230 km, đến cửa sông Hậu 83 km, đến thành phố Cần Thơ 165
    km.
    Sử sách nước ta xưa nay gọi hòn đảo lớn nhất là đảo Côn Lôn (gọi tắt là
    Côn Đảo), cả quần đảo này cũng được gọi chung bằng địa danh ấy - quần
    đảo Côn Lôn. Người ta cũng thường gặp những biến dạng gần gũi của tên
    gọi đó như: Côn Lôn Sơn, Côn Sơn, Côn Nôn.
    Từ ngày thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo (30-5-1979), Côn Đảo
    là địa danh chính thức của hòn đảo lớn nhất cũng như của cả quần đảo.
    Đảo Côn Lôn là một hòn đảo lớn từ đông sang tây, dài 15 km, chỗ rộng
    nhất là 9 km, chỗ hẹp nhất khoảng một km. Với diện tích 51,52 km2, đảo
    Côn Lôn chiếm gần 2/3 tổng diện tích quần đảo. Trên đảo có thị trấn Côn
    Đảo nằm ở tọa độ 8°40'57” vĩ độ bắc, l06°36'l0” kinh độ đông. Nói đến
    quần đảo Côn Lôn là nói đến hòn đảo này, vì đời sống kinh tế - chính trị và
    xã hội của cả quần đảo tập trung ở đây. Từ khi Pháp thiết lập nhà tù, Côn
    Đảo không còn dân thường. Không kể tù nhân, bộ máy cai trị (kể cả gia
    quyến họ) trước Cách mạng tháng Tám (1945) không đến 500 người.

    https://thuviensach.vn

    Hòn Bà tiếp giáp với hòn Côn Lôn về phía Tây - Nam, hai đảo chỉ cách
    nhau bằng khe nước Họng Đầm không quá' 20m. Giữa hai đảo này là Vũng
    Đầm, còn gọi là vịnh Tây - Nam, giống hình cái quạt mở về hướng tây bắc.
    Vũng Đầm sâu lại ở vào nơi khuất gió, thuận tiện cho việc xây dựng một
    bến cảng tốt.
    Hòn Bảy Cạnh nằm trước mặt thị trấn Côn Lôn, trên đó có ngọn Hải
    Đăng Côn Đảo, rọi đường cho tàu bè quốc tế đi lại.
    Hòn Bông Lan nằm sát Hòn Bảy Cạnh là, từ xa trông giống như nứa
    chiếc bánh bông lan.
    Hòn Cau cách Côn Lôn chừng 12 km về hướng Đông - Bắc, nơi chim
    yến hay làm tổ. Dưới thời phong kiến, người dân ở đây phải thu lượm tổ
    yến (yến sào) để dâng nộp cho triều đình. Đất đai Hòn Cau phì nhiêu, cây
    cỏ tươi tốt. Xưa kia ở đây có loại cau quả to, vỏ hồng, vị ngon, người Gia
    Định rất ưa chuộng, mua với giá cao (Gia Định thông chí).
    Hòn Tài Nhỏ, Hòn Tài Lớn, Hòn Trác Nhỏ, Hòn Trác Lớn, họp thành
    một chuỗi đảo nhỏ nối tiếp. Hòn Bảy Cạnh, kéo dài từ đông bắc xuống tây
    nam, che chắn cho đảo Côn Lôn.
    Hòn Trọc, còn gọi là Hòn Trai vì ở đó có nhiều trai ốc biển. Hòn Tre
    Lớn, Hòn Tre Nhỏ tiếp nối nhau che chắn phía tây và tây bắc đảo Côn Lôn.
    Hòn Trứng, còn gọi là Hòn Đá Bạc nằm xa đảo Côn Lôn về hướng Đông
    - Bắc. ở đây không có cây cối nhưng lại là nơi trú chân, làm tổ, đẻ trứng
    của các loài chim biển, biến đảo này thành một trong những “sân chim” của
    miền Nam nước ta.
    Hòn Vung trông giống như chiếc vung nồi úp chụp xuống mặt biển xanh,
    là một hòn đảo nhỏ ở phía Tây - Nam quần đảo.
    Từ năm 1995, Nhà nước ta giao cho huyện Côn Đảo được quản lý thêm
    2 hòn đảo mang tên Hòn Anh và Hòn Em ( Hòn Trứng lớn và Hòn Trứng
    nhỏ ) cách trung tâm thị trấn Côn Đảo 27 hải lý về phía Tây (chếch Nam
    50).

    https://thuviensach.vn

    Diện tích các hòn đảo kể trên cộng lại chỉ bằng nửa diện tích đảo Côn
    Lôn. Đất canh tác ở đây không đáng kể, trừ mấy hòn đảo lớn như Hòn Bà,
    Hòn Bảy Cạnh, Hòn Cau, các đảo khác trông như những trái núi đá vượt
    lên khỏi mặt biển với những bãi cát nhỏ, chói lòa ánh nắng trong những
    ngày đẹp trời.
    Địa hình quần đảo Côn Lôn chủ yếu là đồi núi. Diện tích núi đồi là 6.328
    héc ta, chiếm 88,4% tổng diện tích tự nhiên, đá lộ tương đối nhiều. Những
    ngọn núi cao nhất đều ở đảo Côn Lôn, như Núi Chúa cao tới 515m. Ngọn
    núi phía nam thị trấn Côn Đảo (núi An Hải) cao 577m.
    Thị trấn Côn Đảo nằm trên một thung lũng hình bán nguyệt, dài từ 8 đến
    10 km, rộng từ 2 đến 3 km, ba bề có núi bao bọc, mặt trông ra Vịnh Côn
    Lôn (còn gọi là vịnh Đông - Nam hay Vịnh Đề Lao). Khu vực tương đối
    bằng phẳng thứ hai là làng Cỏ Ống. Hai thung lũng này đất đai bằng phẳng,
    có nhiều chỗ trũng tạo thành hồ nước và ruộng trồng lúa. Côn Đảo không
    có sông mà chỉ có những dòng suối cạn, hai con suối đáng kể đều ở trong
    khu vực thị trấn. Dòng suối thứ nhất bắt nguồn từ phía Sở Tiêu, Sở Lò
    Gạch chảy vòng phía sau thị trấn và đổ ra vịnh Đông - Nam gần Sở Muối
    An Hội. Dòng suối thứ hai bắt đầu từ khu vực Sở Ruộng dưới chân Núi
    Chúa và chảy ra cống Lò Bò gần Mũi Lò Vôi. Đất đai nông nghiệp chiếm
    3,2% tổng diện tích, chủ yếu tập trung ở hai khu vực này và ở Hòn Cau.
    Khí hậu Côn Đảo là loại khí hậu đại dương. Nhiệt độ trung bình hàng
    năm là 26,9°C. Lượng mưa trung bình là 2.200 mm. Côn Đảo có 2 mùa rõ
    rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến
    tháng 4. Tháng một là tháng khô nhất trong năm. Mùa khô thời tiết mát mẻ
    hơn, nhiệt độ trung bình là 24°C, tháng 2 là tháng mát nhất, nhiệt độ trung
    bình là 22°C. Oi bức nhất là tháng 5, có lúc tới 34°C. Độ ẩm trung bình
    hàng năm trên đảo là 80%.
    Gió mùa Đông - Đông Bắc ở Côn Đảo thường rất mạnh, từ cấp 6 đến cấp
    7, nhân dân ta gọi là gió chướng, gây nhiều trở ngại cho sinh hoạt. Người tù
    thường lợi dụng mùa gió này để thả bè vượt ngục trở về đất liền.

    https://thuviensach.vn

    Nhìn chung, khí hậu Côn Đảo trong lành, thuận lợi cho sức khỏe con
    người. Nhưng điều này còn tùy thuộc rất nhiều ở vị trí cụ thể, nơi ở cao hay
    thấp, có chướng ngại che chắn gió nhiều hay ít. Nước ngầm là nguồn nước
    ngọt chủ yếu ở đảo để dùng trong sinh hoạt cũng như trong mọi hoạt động
    kinh tế.
    Côn Đảo còn là một bảo tàng thiên nhiên lớn với Rừng Quốc gia Côn
    Đảo. Rừng có diện tích 6.043 hecta (chiếm 83,7% tổng diện tích tự nhiên
    của huyện đảo.
    Rừng gồm 3 hệ sinh thái chủ yếu:
    – Rừng nhiệt đới thường xanh quanh năm.
    – Rừng đồi cát khô .
    – Rừng đước và rừng sau đước.
    Những khảo sát sơ bộ cho thấy ở đây có 650 loại - thực vật thuộc về 22
    lớp, 71 họ; đại diện cho các vùng khí hậu Việt Nam (cả Bắc, Trung, Nam),
    trong đó có 26 loại cây lấy gỗ với nhiều loại gỗ quý như: cẩm lai, quăng,
    sao, giáng hương. . . và 76 loại cây dược liệu. Trong rừng có 100 loại chim
    và thú lưỡng cư thuộc 50 họ và 22 lớp; 18 loại động vật có vú; 65 loại
    chim; 25 loại bò sát; 6 loại ếch và 150 loại động vật thân mềm. Động vật
    quí hiếm có sóc đen, sóc da đỏ, sóc bay, khỉ vàng, gầm ghi trắng, đại bàng
    biển, trăn... Hòn Trứng là nơi cơ trú của các loại chim biển, mật độ dày đặc,
    có thể so sánh với những sân chim nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ . Đặc biệt
    ở đây có chim Điêu lặt xanh, ó biển là những loại chim hiếm trên thế giới.
    Trong lòng biển có những bãi hải sâm lớn, nơi cư ngụ của cá heo. Tại
    những bãi biển của Hòn Bảy Cạnh, Hòn Tre Lớn là nơi sinh đẻ của vích và
    đồi mồi. Nhiều hang và vách đá của Hòn Cau, Hòn Tre Nhỏ , vịnh Đầm Tre
    . . . là nơi cơ ngụ của chim yến.
    Ngoài khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, ở các
    vùng núi của Côn Đảo có khí hậu mát mẻ như cao nguyên Đà Lạt, Rừng
    Quốc gia Côn Đảo là bức tranh thu nhỏ của thảm thực vật rừng Việt Nam.
    Cũng ở đây nhiều di tích khảo cổ học giá trị được phát hiện, hé mở một

    https://thuviensach.vn

    triển vọng lớn trong việc tìm hiểu các nền văn hóa tiền sử từng tồn tại trên
    đất nước ta. Chỉ tính riêng Côn Lôn đã có 24 bãi biển lớn nhỏ. Tất cả
    những tiềm năng đó khiến Côn Đảo có khả năng hiện thực trở thành một
    trong những hòn đảo du lịch nổi tiếng, không thua kém các hòn đảo du lịch
    nổi tiếng khác trên thế giới. Nhưng chế độ thực dân cũ và mới, hơn một thế
    kỷ qua Côn Đảo đã trở thành một nhà tù, hơn nữa tại là một nhà tù dã man
    nhất, chất chồng những tội ác “trời không dung, đất không tha” của chủ
    nghĩa đế quốc.
    Trước ngày giải phóng, những di vật khảo cổ học phát hiện được một
    cách lẻ tẻ, ngẫu nhiên. . . lưu trữ tại các bảo tàng đã gợi ý cho ta thấy: vào
    giai đoạn hậu kỳ thời đá mới - cách đây trên dưới 4.000 năm, lớp cư dân
    đầu tiên đã có mặt tại quần đảo Côn Lôn. Họ biết làm nông nghiệp dùng
    cuốc kết hợp với thu lượm hải sản, săn bắt, đánh cá. Sau đó, họ đã biết
    nghề luyện kim đồng và sắt. Tuy chưa có được những cuộc khai quật quy
    mô, nhưng qua nghiên cứu so sánh các di vật ngẫu nhiên tìm được ta nhận
    biết được mối quan hệ khăng khít giữa văn hoá vật chất của cơ dân Côn
    Đảo thời tiền sử với khối cư dân cùng thời ở lưu vực sông Đồng Nai, ở
    duyên hải Đông Nam Bộ ngày nay.
    Từ thập niên 80 thế kỷ XX, công cuộc tìm kiếm và thăm dò khảo cổ học
    bắt đầu được tiến hành tích cực do nỗ lực của các bảo tàng địa phương và
    Trung ương, của các cơ quan khảo cổ học, sử học ở Trung ương. Việc
    nghiên cứu tiền sử ở quần đảo đã có những tiến mới, vững chắc: nhiều cuộc
    thám sát được tiến hành có hệ thống tại các đảo lớn (Côn Lôn, Hòn Bảy
    Cạnh, Hòn Bà và Hòn Cau). Đã phát hiện: di tích cư trú lớn như làng cổ
    Hòn Cau (diện tích ước 8.000 m2), những mộ táng ở Hòn Bảy Cạnh, dấu
    vết nơi cư trú của người tiền sử ở Hòn Bà, đã khảo sát lại địa điểm khảo cổ
    học ở đảo Côn Lôn lớn (di chỉ Hàng Dương). Chủ nhân của các di tích
    khảo cổ này đều đã biết luyện đồng, sắt.
    Quan trọng nhất, đáng kể nhất là cuộc khai quật khảo cổ ở đảo Hòn Cau
    - một trong 4 hòn đảo lớn của quần đảo. Qua phân tích những hiện vật khảo
    cổ phong phú ở làng cổ Hòn Cau trong đợt khai quật khá quy mô trên một

    https://thuviensach.vn

    diện tích đào 175m2, các nhà khoa học đã đi tới kết luận quan trọng: di tích
    làng cổ Hòn Cau có mối quan hệ văn hóa mật thiết, gắn bó với nhiều di chỉ
    ven biển của cả nước, như Quỳnh Văn (Nghệ An), Sa Huỳnh (Quảng
    Ngãi), Xóm Cồn (Khánh Hòa) và một số di tích cùng loại ở lưu vực sông
    Đồng Nai (miền Đông Nam Bộ). Làng cổ Hòn Cau được xác định niên đại
    trong khoảng từ 2.500 - 3.000 năm trước đây.
    Do vị trí thuận lợi giữa biển Đông, trên đường giao lưu Đông - Tây, Côn
    Đảo được người phương Tây biết đến từ rất sớm. Năm 1294, đoàn thuyền
    gồm 14 chiếc của nhà du hành người Ý, Máccô Pôlô (Marco Polo), dạt vào
    trú tại Côn Đảo sau khi bị bão đánh chìm 8 chiếc. Trong tập hồi ký của
    mình, Máccô Pô lô đã miêu tả quần đảo này như một nơi giàu đẹp.
    Năm 1516, nhà hàng hải Bồ Đào Nha, Anđơrađơ (Pernão Perès de
    Andrade) đã tới Côn Đảo vào trung tuần tháng 9. Ông ta cho biết hải đảo
    này là nơi các nhà đi biển rất hay lui tới, thường là để kiếm nước ngọt; thủy
    thủ của ông đã thấy ở đây có bán nhiều gà, rùa biển và họ còn thấy có cả
    nho nữa.
    Khoảng giữa những năm 60 thế kỷ XVI, thi hào Bồ Đào Nha Camôidơ
    (Lui Vaz de Camões) - người đã làm rạng danh nền văn học Bồ thời Phục
    Hưng cũng đã ghé qua Vũng Tàu và Côn Đảo đem theo tập bản thảo cuốn
    sử thi bất hủ Os Lusiadas còn giữ lại được sau nạn đắm tàu ở cửa Sông
    Tiền. Đây là tập thơ đầu tiên của của nền văn học phương Tây có viết về
    đất nước ta, trong đó có những vần thơ đẹp đẽ nói về xứ Đàng Trong.
    Trong quá trình lập nghiệp ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn (cũng như
    các vua Triều Nguyễn sau này) đều rất quan tâm đến việc hành xử chủ
    quyền của đất nước đối với các vùng biển đảo trong hải phận. Thời này, tàu
    thuyền các cường quốc châu Âu tăng cường hoạt động tìm kiếm thị trường,
    thuộc địa hoặc để đặt thương điếm với mưu toan bành trướng ảnh hưởng.
    Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), việc tuần tiễu bảo vệ chủ
    quyền cũng như quyền khai thác tài nguyên ở các vùng biển được tổ chức
    chặt chẽ, chu đáo. Công việc nặng nề được giao phó cho các đội hải thuyền
    đặc biệt, do Nhà nước tổ chức ra, hoạt động theo những chế định nghiêm
    https://thuviensach.vn

    ngặt. Các vùng biển đảo đều thống nhất các đơn vị hành chính nhất định,
    gắn bó với một vùng hoạt động nhất định của mỗi hải đội. Dữ liệu còn lại
    cho biết: xứ Đàng Trong hồi đó có những hải đội với quy mô tổ chức to
    nhỏ khác nhau:
    – Đội Hoàng Sa: Là đội lớn nhất, quan trọng nhất phụ trách vùng biển
    Thuận Quảng ở ngoài khơi xa, nơi có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và
    cả vùng biển phía nam Trường Sa nửa. Đội này được thành lập cuối thế kỷ
    XVII - đầu thế kỷ thứ XVIII, hoạt động mạnh mẽ dưới đời chúa Nguyễn
    Phúc Chu. Đời Gia Long, hoạt động cửa đội này vẫn được duy trì tích cực,
    như trước.
    – Đội Bắc Hải: Được thành lập sau sự kiện đánh đuổi người Anh, khi họ
    ngang nhiên đến Côn Đảo, lập pháo đài (1702-l705). Quần đảo Côn Lôn,
    trước nằm trong phạm vi hoạt động tuần tiễu và khai thác hải sản của Đội
    Hoàng Sa, khi lập đội Bắc Hải thì nằm trong phạm vi hoạt động của đội
    này. Nhưng thời gian không dài, vì ngay sau đó đội Bắc Hải lại được đặt
    dưới quyền cai quản của đội Hoàng Sa. “Lại có Đội Bắc Hải mộ dân thôn
    Tư Chính, Bình Cố hoặc xã Cảnh Dương sung vào. Được lệnh cưỡi thuyền
    nhỏ ra các đảo Côn Lôn ở Bắc Hai thu lượm hóa vật, cũng do đội Hoàng Sa
    cai quản luôn”. (Đại Nam thực lục tiền biên, q.10; chi tiết hơn: xem Phủ
    biên tạp lục, quyển 2, tờ 84 a, b). Đội Bắc Hải đặt dưới quyền chỉ đạo của
    các quan chức Phủ Gia Định với một quy chế nhân sự và cách thức quản lý
    thông thoáng hơn. Nhưng về biên chế thì chủ yếu vẫn là dân thạo ghe biển
    trên đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré - thuộc phủ Bình Thuận).
    – Đội Thanh Châu: Hoạt động trong vùng biển đảo phụ Quy Nhơn.
    – Đội Hải Môn: (thuộc Phủ Bình Thuận), hoạt động tuần tra và thu lượm
    hải sản (yến sào là chủ yếu) ở đây.
    Sau cuộc kinh lý của Nguyễn Hữu Cảnh 141 năm, Côn Đảo thuộc tỉnh
    Vĩnh Long quản hạt. Tòa thành đất ở Côn Đảo do Đội Thanh Hải xây dựng
    vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) và mang tên “Thành đất Thanh Hải
    (Thanh Hải bảo). So với các thành đất cùng thời, thành Côn Lôn có quy mô
    khá lớn: chu vi 50 trượng 8 thước 9 tấc; cao 4 thước 3 tấc, có 2 cửa, 1 pháo
    https://thuviensach.vn

    đài, 1 kỳ đài. Trong lần trùng tu năm Thiệu Trì thứ 2 ( 1842) đổi tên thành
    Côn Lôn bảo (thành đất Côn Lôn) và đến khi giặc Pháp chiếm Côn Đảo tòa
    thành vẫn còn.
    Cuối thế kỷ thứ XVII và đầu thế kỷ thứ XVIII, tư bản Anh, Pháp đã bắt
    đầu nhòm ngó các nước phương Đông. Nhiều lần các công ty Đông - Ấn
    của Anh, Pháp cho người tới Côn Đảo điều tra, dò xét tình hình mọi mặt
    với âm mưu xâm lược.
    Tháng 11 năm 1686, Công ty Đông - Ấn của Pháp đã phái Vê rê (Véret)
    tới điều tra lập cơ sở ở Côn Đảo.
    Năm 1687, Uy liêm Đampiê (Williams Dampier) nhân viên Công ty
    Đông - ấn của Anh đã tới vẽ bản đồ ở vịnh Tây - Nam Côn Đảo.
    Năm 1702, đời chúa Nguyễn Phúc Chu, năm thứ 12, Công ty Đông - Ấn
    của Anh ngang nhiên đổ quân lên Côn Đảo xây dựng pháo đài. Giám đốc
    Công ty là Len Kếtpôn (Allen Catchpole) đích thân chỉ huy cuộc chiếm
    đóng trái phép này. Ông ta đưa một số lính người Macátxa1tới xây dựng
    một pháo đài lớn, ký hợp đồng với họ làm trong 3 năm. “Ở Côn Đảo họ bị
    đau ốm lo buồn và chỉ muốn về quê nhà. Họ bí mật chuẩn bị một cuộc nổi
    dậy. Đêm ngày 3-2-1705, một tiếng hú man rợ vang trong rừng thẳm.
    Chính là những người lính hung hãn, da ngăm màu đồng hun đã vùng lên
    tiêu diệt ban chủ người Anh (...). Chỉ có rất ít người chạy thoát như bác sĩ
    Paodơ (Pould) và ông Xalômdn Lyôt (Salomon Ilyod) đang ở bên ngoài
    pháo đài”2.
    Nguyên nhân của cuộc nổi dậy này không phải chỉ ở chỗ người Macátxa
    không chịu đựng nổi khí hậu và cuộc sống quá thiếu thốn trên đảo, cũng
    không phải vì đã hết hạn hợp đồng mà bọn chủ người Anh không làm theo
    lời hứa đưa trả họ về quê hương. Các tác giả Đại Nam nhất thống chí cho
    biết:
    “Đời vua Hiển Tông triều Nguyễn (1691 - 1725) vào năm Nhâm Ngọ
    (1702) có thuyền An - Liệt của bọn hải phỉ vào đậu ở đảo Côn Lôn. Tù
    trưởng là bọn Tô - Thích, Già - Thi chia người làm 5 ban và đảng lõa hơn

    https://thuviensach.vn

    200 người, kết lập trại sách, tích trữ của báu như núi và những đồ bánh trái
    hào soạn, bốn mặt đều đặt hỏa pháo phòng thủ.
    Quam trấn thủ ở biên - trấn là Trương Phúc Phan, mộ 15 người nước Đồ
    Bà mật khiến chúng trá hàng. Nhân khi ban đêm phóng lửa đốt cả trại sách
    của chúng. Giết được ban nhất, ban nhì, bắt được ban năm, còn ban ba và
    ban tư thì trốn thoát ra biển.
    Trương Phúc Pham được tin bèn khiến binh thuyền ra đảo, tóm thâu
    được cả đồ vàng lụa đem dâng nộp”3.
    Lê Quý Đôn đã tra lại sổ ghi kết quả công việc của Thuyên Đức Hầu,
    người trực tiếp chỉ huy đội Hoàng Sa những năm đó, từ năm 1702 đến
    1709, cung cấp cho chúng ta những con số đáng chú ý :
    – Năm Nhâm Ngọ, (1702, năm Len Kếtpun đến chiếm đóng Côn Đảo T.G), đội Hoàng Sa thu 1ượm được 30 thỏi bạc.
    – Năm Ất Dậu, (1705, năm có cuộc nổi dậy đánh đuổi người Anh - T.G),
    đội Hoàng Sa thu lượm được 126 thỏi bạc.
    – Từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ, (1709- 1713), chỉ được mấy cân đồi
    mồi và hải sâm, có lần họ chỉ thu lượm được mấy khối thiếc, mấy chiếc bát
    đá và 2 khẩu súng đồng”4.
    Như vậy cuộc nổi dậy của người Macátxa đêm 3-2-1705 là do chính
    quyền nhà Nguyễn tổ chức và chỉ huy nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn
    lãnh thổ xứ Đàng Trong. Kế hoạch diệt bọn hải phỉ An - Liệt được chuẩn bị
    chu đáo: chúa Nguyễn khôn khéo cài người vào nội bộ địch, lợi dụng bọn
    lính Macátxa đánh thuê đang bất mãn đối với bọn chủ người Anh để gây
    nên cuộc binh biến, kết hợp với sự hỗ trợ từ bên ngoài. Sự việc được giải
    quyết gọn lẹ , không gây rắc rối trong quan hệ bang giao vì đã có tù binh
    trong tay, địch khó lòng chối cãi, trong một thời gian lâu dài về sau tránh
    được sự nhòm ngó của một cường quốc hải quân hùng mạnh vào bậc nhất
    thời đó .
    Năm 1771, cuộc khởi nghĩa to lớn của nông dân Tây Sơn bùng nổ và
    phát triển mau lẹ. Từ 1776 trở đi, quân Tây Sơn nhiều lần tấn công vào căn

    https://thuviensach.vn

    cứ cửa chúa Nguyễn ở Gia Định. Tháng 3 năm 1782, thủy quân của
    Nguyễn Ánh bị đại bại ở cứa Cần Giờ. Tháng 6 năm1783, thủy quân Tây
    Sơn đánh Phú Quốc. Nguyễn Ánh trốn chạy sang đảo Côn Lôn, đem theo
    hơn 100 gia đình thuộc hạ để sau này lập nên ba làng An Hải, An Hội và
    Cỏ Ống xây dựng căn cứ, tính kế phục thù. Chiến thuyền Tây Sơn đuổi
    theo nhưng sau đó, Nguyễn Ánh chạy thoát về Phú Quốc vì thuyền Tây
    Sơn gặp bão.
    Sau thất bại này, theo lời khuyên của giám mục Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh
    đã chọn con đường cầu viện nước Pháp chống Tây Sơn để giành lại ngôi
    báu. Bá Đa Lộc là Khâm sai tòa Thánh ở Gia Định từ 1765, đã giúp
    Nguyễn Ánh khi bị Tây Sơn đánh đuổi vào đây, sự gắn bó giữa họ với nhau
    đã là nguồn gốc cho việc Pháp can thiệp ngày càng sâu vào Việt Nam.
    Tháng 12 năm 1784, Nguyễn Ánh dã giao ấn tín và hoàng tử Cảnh cho Bá
    Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Chủ trương phản động này đã bị chính Phi
    Yến, người vợ trẻ của Nguyễn Ánh phản đối, nhưng Ánh không nghe và
    đày bà lên hòn Côn Lôn Nhỏ cho đến chết. Hòn đảo từ đấy mang tên Hòn
    Bà.
    Ngày 28-11-1787, thay mặt Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc đã ký Hiệp ước
    Vécxai (Versailles) với đại diện vua Pháp là Đờ Mông-môranh (De
    Montmorin), theo đó thì Pháp hứa giúp Nguyễn ánh 4 tàu chiến, 1.200 lính,
    200 pháo thủ, 250 lính người Phi . Để đổi lại, Nguyễn Ánh nhượng cho
    Pháp chủ quyền ở Cửa Hàn (Đà Nẵng), cho Pháp được độc quyền thương
    mại ở Nam Kỳ. Quần đảo Côn Lôn cũng bị nhượng cho Pháp (điều 3 và 5,
    Hiệp ước Vécxai).
    Từ tháng 2 đến hết tháng 12 năm 1787, khâm sứ của giáo hoàng Bá Đa
    Lộc đã được yết kiến vua Lui XVI chính tay ông ta đã vạch ra mấy phương
    án thực hiện cuộc xâm lược. Với quân số và vũ khí dự kiến, ông ta đã đưa
    ra kế hoạch tác chiến đánh thẳng vào Quy Nhơn. Quân lính Pháp dưới sự
    yểm trợ bằng hỏa lực pháo binh đặt trên các tàu chiến, sẽ đổ bộ lên Quy
    Nhơn, nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh.

    https://thuviensach.vn

    Cũng chính vị thầy tu này nêu lên số lượng lương thực, thực phẩm, các
    dụng cụ cần thiết và cả số thuốc men cần đem theo. Nhưng chế độ quân chủ
    chuyên chế Pháp đang khủng hoảng trầm trọng. Cuộc khủng hoảng tài
    chính đã trở thành nguyên nhân trực tiếp chủ yếu dẫn đến cuộc Đại cách
    mạng Pháp năm 1789, đập tan chế độ phong kiến, đem lại thắng lợi cho
    giai cấp tư sản Pháp.
    Trong tình hình như vậy, triều đình Pháp không thể thực hiện được
    những cam kết, Bá Đa Lộc đã trở về tay không. Bá tước Đờ Môngmoranh
    đã gửi những chỉ thị mật cho Cônuây (Conway), người chỉ huy lực lượng
    pháp ở Ấn Độ không thực hiện cuộc can thiệp vì tình hình tài chính không
    cho phép. Không cam chịu thất bại, vị giám mục có đầu óc thực dân này
    ghé qua Pôngđisên vận động một số thương nhân Pháp hùn tiền mộ lính,
    mua súng ống giúp Nguyễn Ánh. Tháng 9 năm 1788, tàu Đơriađơ và La
    Tron đã chở tới Côn Đảo 1.000 khẩu súng trường và mấy khẩu thần công.
    Cần nhắc lại rằng từ khi ký kết Hiệp ước Vé...
     
    Gửi ý kiến