Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862- 1975

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Huy Lượng
Ngày gửi: 16h:53' 01-07-2025
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Huy Lượng
Ngày gửi: 16h:53' 01-07-2025
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Lịch Sử Nhà Tù Côn Đảo (1862 - 1975)
Tác giả: Nhiều Tác Giả
Nhà xuất bản: Nxb Tổng hợp TP.HCM
Định dạng: Bìa cứng
Ngày phát hành: 01/2010
Giá bìa: 120.000 ₫
Số trang: 700 trang
Nguồn text: Giangtvx (quansuvn.net)
Epub (02/2019): @lamtam, tve-4u.org
https://thuviensach.vn
GIỚI THIỆU
Cuốn sách là bức tranh toàn cảnh về cuộc đấu tranh ở Côn Đảo qua các
thời kỳ, là khúc hùng ca trong thiên anh hùng ca vĩ đại của dân tộc trong
cuộc chiến chống thực dân, đế quốc để giành độc lập tự do.
Nhà tù Côn Đảo từ cuối thế kỷ 19 luôn luôn phản ánh cuộc đấu tranh
cách mạng của nhân dân qua các giai đoạn, bởi lẽ địch giam ở đây những
chiến sĩ cách mạng mà chúng cho là nguy hiểm nhất ở khắp các miền của
đất nước.
https://thuviensach.vn
LỜI TỰA CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN GIÀU
(Viết riêng cho cuốn Nhà tù Côn Đảo 1955-1975)
Tôi được bạn bè yêu cầu viết tựa cho sách, rất nhiều lần, nhưng lần này,
giới thiệu tập “Lịch sử Nhà tù Côn Đảo 1955-1975” tôi lo quá; đọc một lần
đã thấy lo đọc hai lần càng thấy lo. Lo không giới thiệu được nội dung cơ
bản của tập sử, nội dung cơ bản ấy là cực kỳ sâu sắc, bởi hàm ý những sự
việc và nhân cách của những con người được kể ở trong sách.
Những sự việc và con người được ghi lại một cách khách quan, khoa
học, đáng là đề tài vô tận của một thiên anh hùng ca mà có lẽ khó có một
nhà thơ nào ở nước ta và cả trên thế giới tìm ra ở trong trí tương tượng
thâm viễn của mình. Trong trường hợp này, một bài giới thiệu của một thầy
giáo lịch sử như tôi chỉ có thể là một lời mời đọc, đọc để rồi đọc lại, đọc đi
đọc lại để mà suy gẫm, suy gẫm về đạo làm người chiến sĩ yêu nước yêu
dân, suy gẫm về con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, khi đứng
trước cảnh ngộ thiên nan vạn nan, khi đứng trên bờ vực giữa cái sống và
cái chết, giữa cái vinh không cần ai biết và cái nhục mà chính mình cảm
thấy hơn ai hết. Tập sách “Lịch sử Nhà tù Côn Đảo 1955-1975” thực tế là
một quyển sách đạo đức học, một quyển triết học.
Trong đời hoạt động cách mạng của mình, tôi đã phải trải qua nhiều nhà
tù, trong số đó có ngục Côn Lôn. Tôi lại được đọc nhiều sách xưa nay nói
về nhà tù của các vua chúa, của tư bản thực dân, của bè lũ phát xít. Như
vậy, tôi có khá nhiều tài liệu để so sánh các chế độ nhà tù tàn bạo, thì các
nhà tù đó cái nào cũng tàn bạo, chỉ có mức tàn bạo, cách tàn bạo và mưu
sâu bên trong là khác nhau. Cho đến trước khi Hồng quân Liên Xô cắm cờ
chiến thắng trên nóc nhà quốc hội Berlin, thì nhà tù của Hitler là tàn bạo
nhất, với ý nghĩa chính là giết nhiều người nhất: hàng triệu, hàng triệu dân
Do Thái bị giết bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật. Nói ra thì có lẽ không
https://thuviensach.vn
phải, nhưng cái chết bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật, giết một lần hàng
vạn sinh linh, cái chết đó người chiến sĩ tù nhân Việt Nam mình có mấy ai
sợ đâu? So với cái tàn ác ở nhà tù Côn Đảo dưới chế độ Mỹ ngụy, thì nhà tù
Hitler giống như ao cạn so với vực thẳm. Mỹ ngụy thâm độc hơn Hitler biết
bao nhiêu! Nhà tù Côn Lôn thời Pháp thuộc đã là địa ngục ở trần gian rồi,
đến thời Mỹ ngụy, là địa ngục trong địa ngục, và nói như vậy cũng chưa
vừa.
Bị đày ra Côn Lôn (1935), khi ấy tôi từng bị tống ngay vào xà lim số 1,
xà lim này rộng 3 x 3 x 1,5 mét, còng một chân. Mà trời ơi, làm sao so
được với thời Mỹ ngụy cũng trong cái xà lim đó , Mỹ ngụy nhốt tới 28
người, cửa đóng, lỗ thông hơi bịt kín, tù nhân lại còng tréo 2 tay và 2 chân.
Dưới thời thực dân Pháp, tụi tôi ở Banh I bãi thực chống ăn khô mục, cuộc
đấu tranh dài nhất là 9 ngày, bị đánh một lần suốt buổi bằng mấy cần xé
mây cà dông đến mây tả tơi ra. Vụ Tôn Đức Thắng ở trong số đồng chí bị
khủng bố hôm ấy, lưng mỗi người bầm tím 100%.
Vậy mà so với anh em bị biệt giam thời Mỹ ngụy, cũng ở đây, thì có
“thấm” gì? Nhiều lần anh em bãi thực đòi ăn cơm có rau, mà phải bãi thực
đến 20 ngày, một tháng, 60 ngày và hơn nữa, bọn chúa ngục lại đập bể các
lu nước, bao: “Để bây chết đói và chết khát cho trọn”'. Mà, đã yên để
không ăn không uống đâu, ngày ngày chúng vào khám, đánh tù nhân đấu
tranh bằng củi đòn, củi chẻ; mây càdông đánh mãi thì tả tơi, củi đòn củi chẻ
đánh mãi không mòn, chỉ có sọ vỡ, thịt nát mà thôi!
Đã vậy, ở Chuồng Cọp, bọn gác dang, giám thị còn ban ngày thì đánh,
ban đêm thì phân công nhau, đứng trên dội nước lạnh xuống, 10 đêm, 20
đêm, 30 đêm như thế, liên tục, thân xác con người nào mà chịu nổi?
Vậy mà chiến sĩ biệt giam cộng sản ở Chuồng Cọp Côn Lôn chịu nổi, thà
chết, không hàng!
Hành hạ một cách tàn ác như vậy, để làm gì?
Có phải để thỏa mãn cái thú tính cửa bọn Mỹ ngụy và những quỷ sứ tay
sai của chúng nó chăng?
https://thuviensach.vn
Không Cốt để cho các chiến sĩ cách mạng phải:
1. Chịu ký tên “ly khai Đảng Cộng sản”;
2. Hô lên “đả đảo Hồ Chí Minh”!
Chỉ cần hạ bút ký tên và mở miệng hô năm tiếng thì khỏi còng, khỏi củi
chẻ, khỏi bị xối nước lạnh. Có bạn đã nhận thức đúng, hết sức đúng, rất sâu
sắc rằng:
“Hành hạ người tù đau đớn tột cùng về thể xác, truy bức người tù căng
thẳng tột độ về tâm lý, dai dẳng và trường kỳ, chúng đẩy người tù đến bên
miệng hố của tử thần, để họ day dứt, trăn trở, chết dần chết mòn từng giờ,
từng phút. Song cứ mỗi lần họ hấp hối, họ tỉnh dậy, họ thề với lương tâm
một lần nữa quyết chết cho lý tưởng, chết để vẹn toàn khí tiết, thì chúng nó
lại nhượng bộ một chút, nới ra một tí, cho họ ăn uống trở lại, sinh hoạt bình
thường để họ khát khao sự sống. Chập chờn giữa ranh giới mong manh của
sự sống và cái chết hàng chục lần, hàng trăm lần như vậy, thì tư tưởng, tâm
trạng con người luôn luôn căng thẳng, dễ dao động, chẳng khác gì một thỏi
thép quẳng vào lò, nung đỏ lên rồi quăng xuống nước cho nó biến dạng, rạn
nứt. Bọn cải huấn, công an, mật vụ, tâm lý chiến chực sẵn để chộp lấy
những giây phút dao động, mềm yếu của tù nhân mà đánh tiếp những đòn
tiến công khác”.
Hiểm độc và tàn bạo, càng tàn bạo càng hiểm độc của Mỹ ngụy và tay
sai là như thế.
Cho nên, đã không ít tù chính trị sau bao nhiêu cuộc giao tranh bị thất
bại, bị khuất phục trước những ngón đòn tàn bạo và hiểm độc ấy. Hàng
ngàn người ở nhà tù Côn Đảo trở về với tấm thân tàn phế, quằn quại cho
đến chết, chết trong ân hận đã lỡ bước sa cơ.
Nhưng số đông tù chính trị, nếu bị khuất phục thì ấy là khuất phục tạm
thời ngoài mặt để giư lấy mạng sống, hòng có ngày chiến đấu phục thù.
Một số khác, không ít người, sống lại, chết đi hàng chục lần mà vẫn
không khuất phục. Trong cuộc chiến đấu dài 20 năm này ( 1955-1975),
trong cuộc đấu tranh liên tục, thiên hình vạn trạng này, giữa tàn bạo có vũ
https://thuviensach.vn
khí tận răng và chính nghĩa giải phóng ở trong thế tay chân bị còng, chỉ còn
khí tiết và lý tưởng là vũ khí, thì rốt cuộc phần thắng đã về ai?
Kỳ diệu thay mà cũng là tất yếu thay, như lời của Nguyễn Trãi tạc trên
bia đá Lam Sơn, yếu thắng mạnh, ít thắng nhiều, chí nhân thắng cường bạo.
Trong trường hợp cuộc đấu tranh rung động trăng sao, ở Côn Đảo từ 1955
đến 1975, khí tiết cộng sản đã thắng cường quyền và mưu ma chước quỷ
của Mỹ ngụy. Những “ngôi sao” của biệt giam Chuồng Cọp hãy còn sống
và hãy còn giương cao ngọn cờ Hồ Chí Minh, kẻ địch không có cách nào
hạ nổi! Ngọn cờ ấy, thực tế vẫn là ngọn cờ của hầu hết anh em đã gặp phải
lúc sa cơ mà ở đáy lòng không bao giờ có ý “ôm cầm thuyền ai”, đông đảo
trở lại hàng ngũ đấu tranh. Ngọn cờ ấy lại là tiêu biểu ở Côn Đảo, xứng
đáng với ý chí toàn dân Việt Nam đang quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, ngụy
nhào”.
Tôi đồng tình với người viết sách “Lịch sừ Nhà tù Côn Đảo 1955-1975”
tuyên dương tinh thần đấu tranh trực diện chống li khai của tù chính trị câu
lưu Trại I, của tù án chính trị chống chào cờ ngụy với những tấm gương
sáng tiêu biểu như Cao Văn Ngọc, Lưu Chí Hiếu, Trần Trung Tín; tuyên
dương sự bền bỉ chiến đấu vô song của “Năm ngôi sao tù chính trị câu lưu”,
của “Sáu ngôi sao tù án chính trị”. Tôi thành thật khâm phục, xin cúi đầu
trước ông già Cao Văn Ngọc vốn làm chức hương quản làng dưới thời
Pháp, theo cách mạng từ mùa thu 1945; ông chỉ là thư ký nông hội xã; ông
không phải là đảng viên cộng sản mà kiên quyết đến cùng, đấu tranh chống
ly khai Đảng, chống hô khẩu hiệu đả đảo Cụ Hồ .
– Chúa ngục hỏi: “Ông không phải là đảng viên cộng sản, ông mắc nợ gì
với Hồ Chí Minh mà không chịu hô đả đảo” .
– Già Ngọc bình tĩnh đáp: “Tôi mắc nợ Cụ Hồ Chí Minh đã đem lại độc
lập tự do cho nước Việt Nam”.
Tôi khâm phục người thợ giày Lưu Chí Hiếu, lưu lạc từ Nam Định ra Hà
Nội, vào Sài Gòn, tham gia khởi nghĩa và kháng chiến, chức vụ chỉ tương
đương tiểu đội trưởng, nhưng lại thể hiện xuất sắc bản lĩnh người cộng sản,
quyết tử chống li khai trong lần quyết định vận mệnh của cuộc chiến đấu
https://thuviensach.vn
vào lúc hiểm nghèo, tên anh đã trở thành một ngọn cờ của tù nhân chính trị
toàn đảo.
Đó là thứ “Vàng trong lửa”, đó là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách
mạng, cua nhân cách Việt Nam, của khí tiết cộng sản.
Mong rằng các vị anh hùng ở nhà tù Côn Đảo được ca tụng xứng đáng
nhất bằng những tập sách gối đầu giường cho thanh niên, được biểu dương
xứng đáng nhất bằng những pho tượng đặt ở quê hương và ở các nhà
trường.
Mong rằng các sự tích ở Côn Lôn, từ thuở Pháp biến nó thành nơi lưu
đày tù chính trị cho đến thời 1955-1975, được ghi tạc chẳng những bằng
tượng, bằng tranh vẽ và tranh điêu khắc mà còn được phổ biến rộng rãi
bằng những cuốn phim. Tất cả những công việc đó của nhà làm lịch sử và
làm văn nghệ đều nhằm để lại cho các thế hệ những tấm gương sáng ngời
của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Sau hết, tôi như là một thầy giáo có nghiên cứu lịch sử xin hoan nghênh
các tác giả Lịch sử Nhà tù Côn Đảo đã có công sưu tầm tư liệu, “nói có
sách, mách có chứng”, đã chú ý đến việc hết sức cần thiết là gặp từng cựu
tù quan trọng nào có thể gặp được, chép từng bản lý lịch, ghi từng chuyện
kể; bằng cách đó, tác giả lưu giữ, tập hợp được một số lượng lớn tư liệu
cho bản thân mình, còn viết nhiều về Côn Đảo, có thể là viết cả đời những
ai là bạn đồng hành, văn nhân hay nghệ sĩ, trong sự nghiệp tái hiện cái địa
ngục trần gian - “ngục Côn Đảo”.
Giáo sư Sử học
TRẦN VĂN GIÀU
https://thuviensach.vn
Mở Đầu:
VÀI NÉT VỀ ĐỊA LÝ VÀ
LỊCH SỬ QUẦN ĐẢO CÔN LÔN
Thiên nhiên Côn Đảo
Côn Lôn là một trong những quần đảo tiền tiêu của nước ta, “nguy nga
đứng trấn giữa biển Đông” (Đại Nam nhất thông chí), bao gồm 16 hòn đảo
lớn nhỏ, với tổng diện tích là 76,71km2, trải ra trên một vùng biển có tọa
độ địa lý từ 106°3' đến 106°45' kinh độ đông; từ 8°34' đến 8°49' vĩ độ
bắc(1), cùng một kinh độ với Thành phố Hồ Chí Minh và cùng một vĩ độ
với thị trấn Năm Căn (Cà Mau).
Đường biển từ Côn Lôn đến Vũng Tàu dài 179 km, đến Thành phố Hồ
Chí Minh 230 km, đến cửa sông Hậu 83 km, đến thành phố Cần Thơ 165
km.
Sử sách nước ta xưa nay gọi hòn đảo lớn nhất là đảo Côn Lôn (gọi tắt là
Côn Đảo), cả quần đảo này cũng được gọi chung bằng địa danh ấy - quần
đảo Côn Lôn. Người ta cũng thường gặp những biến dạng gần gũi của tên
gọi đó như: Côn Lôn Sơn, Côn Sơn, Côn Nôn.
Từ ngày thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo (30-5-1979), Côn Đảo
là địa danh chính thức của hòn đảo lớn nhất cũng như của cả quần đảo.
Đảo Côn Lôn là một hòn đảo lớn từ đông sang tây, dài 15 km, chỗ rộng
nhất là 9 km, chỗ hẹp nhất khoảng một km. Với diện tích 51,52 km2, đảo
Côn Lôn chiếm gần 2/3 tổng diện tích quần đảo. Trên đảo có thị trấn Côn
Đảo nằm ở tọa độ 8°40'57” vĩ độ bắc, l06°36'l0” kinh độ đông. Nói đến
quần đảo Côn Lôn là nói đến hòn đảo này, vì đời sống kinh tế - chính trị và
xã hội của cả quần đảo tập trung ở đây. Từ khi Pháp thiết lập nhà tù, Côn
Đảo không còn dân thường. Không kể tù nhân, bộ máy cai trị (kể cả gia
quyến họ) trước Cách mạng tháng Tám (1945) không đến 500 người.
https://thuviensach.vn
Hòn Bà tiếp giáp với hòn Côn Lôn về phía Tây - Nam, hai đảo chỉ cách
nhau bằng khe nước Họng Đầm không quá' 20m. Giữa hai đảo này là Vũng
Đầm, còn gọi là vịnh Tây - Nam, giống hình cái quạt mở về hướng tây bắc.
Vũng Đầm sâu lại ở vào nơi khuất gió, thuận tiện cho việc xây dựng một
bến cảng tốt.
Hòn Bảy Cạnh nằm trước mặt thị trấn Côn Lôn, trên đó có ngọn Hải
Đăng Côn Đảo, rọi đường cho tàu bè quốc tế đi lại.
Hòn Bông Lan nằm sát Hòn Bảy Cạnh là, từ xa trông giống như nứa
chiếc bánh bông lan.
Hòn Cau cách Côn Lôn chừng 12 km về hướng Đông - Bắc, nơi chim
yến hay làm tổ. Dưới thời phong kiến, người dân ở đây phải thu lượm tổ
yến (yến sào) để dâng nộp cho triều đình. Đất đai Hòn Cau phì nhiêu, cây
cỏ tươi tốt. Xưa kia ở đây có loại cau quả to, vỏ hồng, vị ngon, người Gia
Định rất ưa chuộng, mua với giá cao (Gia Định thông chí).
Hòn Tài Nhỏ, Hòn Tài Lớn, Hòn Trác Nhỏ, Hòn Trác Lớn, họp thành
một chuỗi đảo nhỏ nối tiếp. Hòn Bảy Cạnh, kéo dài từ đông bắc xuống tây
nam, che chắn cho đảo Côn Lôn.
Hòn Trọc, còn gọi là Hòn Trai vì ở đó có nhiều trai ốc biển. Hòn Tre
Lớn, Hòn Tre Nhỏ tiếp nối nhau che chắn phía tây và tây bắc đảo Côn Lôn.
Hòn Trứng, còn gọi là Hòn Đá Bạc nằm xa đảo Côn Lôn về hướng Đông
- Bắc. ở đây không có cây cối nhưng lại là nơi trú chân, làm tổ, đẻ trứng
của các loài chim biển, biến đảo này thành một trong những “sân chim” của
miền Nam nước ta.
Hòn Vung trông giống như chiếc vung nồi úp chụp xuống mặt biển xanh,
là một hòn đảo nhỏ ở phía Tây - Nam quần đảo.
Từ năm 1995, Nhà nước ta giao cho huyện Côn Đảo được quản lý thêm
2 hòn đảo mang tên Hòn Anh và Hòn Em ( Hòn Trứng lớn và Hòn Trứng
nhỏ ) cách trung tâm thị trấn Côn Đảo 27 hải lý về phía Tây (chếch Nam
50).
https://thuviensach.vn
Diện tích các hòn đảo kể trên cộng lại chỉ bằng nửa diện tích đảo Côn
Lôn. Đất canh tác ở đây không đáng kể, trừ mấy hòn đảo lớn như Hòn Bà,
Hòn Bảy Cạnh, Hòn Cau, các đảo khác trông như những trái núi đá vượt
lên khỏi mặt biển với những bãi cát nhỏ, chói lòa ánh nắng trong những
ngày đẹp trời.
Địa hình quần đảo Côn Lôn chủ yếu là đồi núi. Diện tích núi đồi là 6.328
héc ta, chiếm 88,4% tổng diện tích tự nhiên, đá lộ tương đối nhiều. Những
ngọn núi cao nhất đều ở đảo Côn Lôn, như Núi Chúa cao tới 515m. Ngọn
núi phía nam thị trấn Côn Đảo (núi An Hải) cao 577m.
Thị trấn Côn Đảo nằm trên một thung lũng hình bán nguyệt, dài từ 8 đến
10 km, rộng từ 2 đến 3 km, ba bề có núi bao bọc, mặt trông ra Vịnh Côn
Lôn (còn gọi là vịnh Đông - Nam hay Vịnh Đề Lao). Khu vực tương đối
bằng phẳng thứ hai là làng Cỏ Ống. Hai thung lũng này đất đai bằng phẳng,
có nhiều chỗ trũng tạo thành hồ nước và ruộng trồng lúa. Côn Đảo không
có sông mà chỉ có những dòng suối cạn, hai con suối đáng kể đều ở trong
khu vực thị trấn. Dòng suối thứ nhất bắt nguồn từ phía Sở Tiêu, Sở Lò
Gạch chảy vòng phía sau thị trấn và đổ ra vịnh Đông - Nam gần Sở Muối
An Hội. Dòng suối thứ hai bắt đầu từ khu vực Sở Ruộng dưới chân Núi
Chúa và chảy ra cống Lò Bò gần Mũi Lò Vôi. Đất đai nông nghiệp chiếm
3,2% tổng diện tích, chủ yếu tập trung ở hai khu vực này và ở Hòn Cau.
Khí hậu Côn Đảo là loại khí hậu đại dương. Nhiệt độ trung bình hàng
năm là 26,9°C. Lượng mưa trung bình là 2.200 mm. Côn Đảo có 2 mùa rõ
rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến
tháng 4. Tháng một là tháng khô nhất trong năm. Mùa khô thời tiết mát mẻ
hơn, nhiệt độ trung bình là 24°C, tháng 2 là tháng mát nhất, nhiệt độ trung
bình là 22°C. Oi bức nhất là tháng 5, có lúc tới 34°C. Độ ẩm trung bình
hàng năm trên đảo là 80%.
Gió mùa Đông - Đông Bắc ở Côn Đảo thường rất mạnh, từ cấp 6 đến cấp
7, nhân dân ta gọi là gió chướng, gây nhiều trở ngại cho sinh hoạt. Người tù
thường lợi dụng mùa gió này để thả bè vượt ngục trở về đất liền.
https://thuviensach.vn
Nhìn chung, khí hậu Côn Đảo trong lành, thuận lợi cho sức khỏe con
người. Nhưng điều này còn tùy thuộc rất nhiều ở vị trí cụ thể, nơi ở cao hay
thấp, có chướng ngại che chắn gió nhiều hay ít. Nước ngầm là nguồn nước
ngọt chủ yếu ở đảo để dùng trong sinh hoạt cũng như trong mọi hoạt động
kinh tế.
Côn Đảo còn là một bảo tàng thiên nhiên lớn với Rừng Quốc gia Côn
Đảo. Rừng có diện tích 6.043 hecta (chiếm 83,7% tổng diện tích tự nhiên
của huyện đảo.
Rừng gồm 3 hệ sinh thái chủ yếu:
– Rừng nhiệt đới thường xanh quanh năm.
– Rừng đồi cát khô .
– Rừng đước và rừng sau đước.
Những khảo sát sơ bộ cho thấy ở đây có 650 loại - thực vật thuộc về 22
lớp, 71 họ; đại diện cho các vùng khí hậu Việt Nam (cả Bắc, Trung, Nam),
trong đó có 26 loại cây lấy gỗ với nhiều loại gỗ quý như: cẩm lai, quăng,
sao, giáng hương. . . và 76 loại cây dược liệu. Trong rừng có 100 loại chim
và thú lưỡng cư thuộc 50 họ và 22 lớp; 18 loại động vật có vú; 65 loại
chim; 25 loại bò sát; 6 loại ếch và 150 loại động vật thân mềm. Động vật
quí hiếm có sóc đen, sóc da đỏ, sóc bay, khỉ vàng, gầm ghi trắng, đại bàng
biển, trăn... Hòn Trứng là nơi cơ trú của các loại chim biển, mật độ dày đặc,
có thể so sánh với những sân chim nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ . Đặc biệt
ở đây có chim Điêu lặt xanh, ó biển là những loại chim hiếm trên thế giới.
Trong lòng biển có những bãi hải sâm lớn, nơi cư ngụ của cá heo. Tại
những bãi biển của Hòn Bảy Cạnh, Hòn Tre Lớn là nơi sinh đẻ của vích và
đồi mồi. Nhiều hang và vách đá của Hòn Cau, Hòn Tre Nhỏ , vịnh Đầm Tre
. . . là nơi cơ ngụ của chim yến.
Ngoài khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, ở các
vùng núi của Côn Đảo có khí hậu mát mẻ như cao nguyên Đà Lạt, Rừng
Quốc gia Côn Đảo là bức tranh thu nhỏ của thảm thực vật rừng Việt Nam.
Cũng ở đây nhiều di tích khảo cổ học giá trị được phát hiện, hé mở một
https://thuviensach.vn
triển vọng lớn trong việc tìm hiểu các nền văn hóa tiền sử từng tồn tại trên
đất nước ta. Chỉ tính riêng Côn Lôn đã có 24 bãi biển lớn nhỏ. Tất cả
những tiềm năng đó khiến Côn Đảo có khả năng hiện thực trở thành một
trong những hòn đảo du lịch nổi tiếng, không thua kém các hòn đảo du lịch
nổi tiếng khác trên thế giới. Nhưng chế độ thực dân cũ và mới, hơn một thế
kỷ qua Côn Đảo đã trở thành một nhà tù, hơn nữa tại là một nhà tù dã man
nhất, chất chồng những tội ác “trời không dung, đất không tha” của chủ
nghĩa đế quốc.
Trước ngày giải phóng, những di vật khảo cổ học phát hiện được một
cách lẻ tẻ, ngẫu nhiên. . . lưu trữ tại các bảo tàng đã gợi ý cho ta thấy: vào
giai đoạn hậu kỳ thời đá mới - cách đây trên dưới 4.000 năm, lớp cư dân
đầu tiên đã có mặt tại quần đảo Côn Lôn. Họ biết làm nông nghiệp dùng
cuốc kết hợp với thu lượm hải sản, săn bắt, đánh cá. Sau đó, họ đã biết
nghề luyện kim đồng và sắt. Tuy chưa có được những cuộc khai quật quy
mô, nhưng qua nghiên cứu so sánh các di vật ngẫu nhiên tìm được ta nhận
biết được mối quan hệ khăng khít giữa văn hoá vật chất của cơ dân Côn
Đảo thời tiền sử với khối cư dân cùng thời ở lưu vực sông Đồng Nai, ở
duyên hải Đông Nam Bộ ngày nay.
Từ thập niên 80 thế kỷ XX, công cuộc tìm kiếm và thăm dò khảo cổ học
bắt đầu được tiến hành tích cực do nỗ lực của các bảo tàng địa phương và
Trung ương, của các cơ quan khảo cổ học, sử học ở Trung ương. Việc
nghiên cứu tiền sử ở quần đảo đã có những tiến mới, vững chắc: nhiều cuộc
thám sát được tiến hành có hệ thống tại các đảo lớn (Côn Lôn, Hòn Bảy
Cạnh, Hòn Bà và Hòn Cau). Đã phát hiện: di tích cư trú lớn như làng cổ
Hòn Cau (diện tích ước 8.000 m2), những mộ táng ở Hòn Bảy Cạnh, dấu
vết nơi cư trú của người tiền sử ở Hòn Bà, đã khảo sát lại địa điểm khảo cổ
học ở đảo Côn Lôn lớn (di chỉ Hàng Dương). Chủ nhân của các di tích
khảo cổ này đều đã biết luyện đồng, sắt.
Quan trọng nhất, đáng kể nhất là cuộc khai quật khảo cổ ở đảo Hòn Cau
- một trong 4 hòn đảo lớn của quần đảo. Qua phân tích những hiện vật khảo
cổ phong phú ở làng cổ Hòn Cau trong đợt khai quật khá quy mô trên một
https://thuviensach.vn
diện tích đào 175m2, các nhà khoa học đã đi tới kết luận quan trọng: di tích
làng cổ Hòn Cau có mối quan hệ văn hóa mật thiết, gắn bó với nhiều di chỉ
ven biển của cả nước, như Quỳnh Văn (Nghệ An), Sa Huỳnh (Quảng
Ngãi), Xóm Cồn (Khánh Hòa) và một số di tích cùng loại ở lưu vực sông
Đồng Nai (miền Đông Nam Bộ). Làng cổ Hòn Cau được xác định niên đại
trong khoảng từ 2.500 - 3.000 năm trước đây.
Do vị trí thuận lợi giữa biển Đông, trên đường giao lưu Đông - Tây, Côn
Đảo được người phương Tây biết đến từ rất sớm. Năm 1294, đoàn thuyền
gồm 14 chiếc của nhà du hành người Ý, Máccô Pôlô (Marco Polo), dạt vào
trú tại Côn Đảo sau khi bị bão đánh chìm 8 chiếc. Trong tập hồi ký của
mình, Máccô Pô lô đã miêu tả quần đảo này như một nơi giàu đẹp.
Năm 1516, nhà hàng hải Bồ Đào Nha, Anđơrađơ (Pernão Perès de
Andrade) đã tới Côn Đảo vào trung tuần tháng 9. Ông ta cho biết hải đảo
này là nơi các nhà đi biển rất hay lui tới, thường là để kiếm nước ngọt; thủy
thủ của ông đã thấy ở đây có bán nhiều gà, rùa biển và họ còn thấy có cả
nho nữa.
Khoảng giữa những năm 60 thế kỷ XVI, thi hào Bồ Đào Nha Camôidơ
(Lui Vaz de Camões) - người đã làm rạng danh nền văn học Bồ thời Phục
Hưng cũng đã ghé qua Vũng Tàu và Côn Đảo đem theo tập bản thảo cuốn
sử thi bất hủ Os Lusiadas còn giữ lại được sau nạn đắm tàu ở cửa Sông
Tiền. Đây là tập thơ đầu tiên của của nền văn học phương Tây có viết về
đất nước ta, trong đó có những vần thơ đẹp đẽ nói về xứ Đàng Trong.
Trong quá trình lập nghiệp ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn (cũng như
các vua Triều Nguyễn sau này) đều rất quan tâm đến việc hành xử chủ
quyền của đất nước đối với các vùng biển đảo trong hải phận. Thời này, tàu
thuyền các cường quốc châu Âu tăng cường hoạt động tìm kiếm thị trường,
thuộc địa hoặc để đặt thương điếm với mưu toan bành trướng ảnh hưởng.
Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), việc tuần tiễu bảo vệ chủ
quyền cũng như quyền khai thác tài nguyên ở các vùng biển được tổ chức
chặt chẽ, chu đáo. Công việc nặng nề được giao phó cho các đội hải thuyền
đặc biệt, do Nhà nước tổ chức ra, hoạt động theo những chế định nghiêm
https://thuviensach.vn
ngặt. Các vùng biển đảo đều thống nhất các đơn vị hành chính nhất định,
gắn bó với một vùng hoạt động nhất định của mỗi hải đội. Dữ liệu còn lại
cho biết: xứ Đàng Trong hồi đó có những hải đội với quy mô tổ chức to
nhỏ khác nhau:
– Đội Hoàng Sa: Là đội lớn nhất, quan trọng nhất phụ trách vùng biển
Thuận Quảng ở ngoài khơi xa, nơi có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và
cả vùng biển phía nam Trường Sa nửa. Đội này được thành lập cuối thế kỷ
XVII - đầu thế kỷ thứ XVIII, hoạt động mạnh mẽ dưới đời chúa Nguyễn
Phúc Chu. Đời Gia Long, hoạt động cửa đội này vẫn được duy trì tích cực,
như trước.
– Đội Bắc Hải: Được thành lập sau sự kiện đánh đuổi người Anh, khi họ
ngang nhiên đến Côn Đảo, lập pháo đài (1702-l705). Quần đảo Côn Lôn,
trước nằm trong phạm vi hoạt động tuần tiễu và khai thác hải sản của Đội
Hoàng Sa, khi lập đội Bắc Hải thì nằm trong phạm vi hoạt động của đội
này. Nhưng thời gian không dài, vì ngay sau đó đội Bắc Hải lại được đặt
dưới quyền cai quản của đội Hoàng Sa. “Lại có Đội Bắc Hải mộ dân thôn
Tư Chính, Bình Cố hoặc xã Cảnh Dương sung vào. Được lệnh cưỡi thuyền
nhỏ ra các đảo Côn Lôn ở Bắc Hai thu lượm hóa vật, cũng do đội Hoàng Sa
cai quản luôn”. (Đại Nam thực lục tiền biên, q.10; chi tiết hơn: xem Phủ
biên tạp lục, quyển 2, tờ 84 a, b). Đội Bắc Hải đặt dưới quyền chỉ đạo của
các quan chức Phủ Gia Định với một quy chế nhân sự và cách thức quản lý
thông thoáng hơn. Nhưng về biên chế thì chủ yếu vẫn là dân thạo ghe biển
trên đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré - thuộc phủ Bình Thuận).
– Đội Thanh Châu: Hoạt động trong vùng biển đảo phụ Quy Nhơn.
– Đội Hải Môn: (thuộc Phủ Bình Thuận), hoạt động tuần tra và thu lượm
hải sản (yến sào là chủ yếu) ở đây.
Sau cuộc kinh lý của Nguyễn Hữu Cảnh 141 năm, Côn Đảo thuộc tỉnh
Vĩnh Long quản hạt. Tòa thành đất ở Côn Đảo do Đội Thanh Hải xây dựng
vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) và mang tên “Thành đất Thanh Hải
(Thanh Hải bảo). So với các thành đất cùng thời, thành Côn Lôn có quy mô
khá lớn: chu vi 50 trượng 8 thước 9 tấc; cao 4 thước 3 tấc, có 2 cửa, 1 pháo
https://thuviensach.vn
đài, 1 kỳ đài. Trong lần trùng tu năm Thiệu Trì thứ 2 ( 1842) đổi tên thành
Côn Lôn bảo (thành đất Côn Lôn) và đến khi giặc Pháp chiếm Côn Đảo tòa
thành vẫn còn.
Cuối thế kỷ thứ XVII và đầu thế kỷ thứ XVIII, tư bản Anh, Pháp đã bắt
đầu nhòm ngó các nước phương Đông. Nhiều lần các công ty Đông - Ấn
của Anh, Pháp cho người tới Côn Đảo điều tra, dò xét tình hình mọi mặt
với âm mưu xâm lược.
Tháng 11 năm 1686, Công ty Đông - Ấn của Pháp đã phái Vê rê (Véret)
tới điều tra lập cơ sở ở Côn Đảo.
Năm 1687, Uy liêm Đampiê (Williams Dampier) nhân viên Công ty
Đông - ấn của Anh đã tới vẽ bản đồ ở vịnh Tây - Nam Côn Đảo.
Năm 1702, đời chúa Nguyễn Phúc Chu, năm thứ 12, Công ty Đông - Ấn
của Anh ngang nhiên đổ quân lên Côn Đảo xây dựng pháo đài. Giám đốc
Công ty là Len Kếtpôn (Allen Catchpole) đích thân chỉ huy cuộc chiếm
đóng trái phép này. Ông ta đưa một số lính người Macátxa1tới xây dựng
một pháo đài lớn, ký hợp đồng với họ làm trong 3 năm. “Ở Côn Đảo họ bị
đau ốm lo buồn và chỉ muốn về quê nhà. Họ bí mật chuẩn bị một cuộc nổi
dậy. Đêm ngày 3-2-1705, một tiếng hú man rợ vang trong rừng thẳm.
Chính là những người lính hung hãn, da ngăm màu đồng hun đã vùng lên
tiêu diệt ban chủ người Anh (...). Chỉ có rất ít người chạy thoát như bác sĩ
Paodơ (Pould) và ông Xalômdn Lyôt (Salomon Ilyod) đang ở bên ngoài
pháo đài”2.
Nguyên nhân của cuộc nổi dậy này không phải chỉ ở chỗ người Macátxa
không chịu đựng nổi khí hậu và cuộc sống quá thiếu thốn trên đảo, cũng
không phải vì đã hết hạn hợp đồng mà bọn chủ người Anh không làm theo
lời hứa đưa trả họ về quê hương. Các tác giả Đại Nam nhất thống chí cho
biết:
“Đời vua Hiển Tông triều Nguyễn (1691 - 1725) vào năm Nhâm Ngọ
(1702) có thuyền An - Liệt của bọn hải phỉ vào đậu ở đảo Côn Lôn. Tù
trưởng là bọn Tô - Thích, Già - Thi chia người làm 5 ban và đảng lõa hơn
https://thuviensach.vn
200 người, kết lập trại sách, tích trữ của báu như núi và những đồ bánh trái
hào soạn, bốn mặt đều đặt hỏa pháo phòng thủ.
Quam trấn thủ ở biên - trấn là Trương Phúc Phan, mộ 15 người nước Đồ
Bà mật khiến chúng trá hàng. Nhân khi ban đêm phóng lửa đốt cả trại sách
của chúng. Giết được ban nhất, ban nhì, bắt được ban năm, còn ban ba và
ban tư thì trốn thoát ra biển.
Trương Phúc Pham được tin bèn khiến binh thuyền ra đảo, tóm thâu
được cả đồ vàng lụa đem dâng nộp”3.
Lê Quý Đôn đã tra lại sổ ghi kết quả công việc của Thuyên Đức Hầu,
người trực tiếp chỉ huy đội Hoàng Sa những năm đó, từ năm 1702 đến
1709, cung cấp cho chúng ta những con số đáng chú ý :
– Năm Nhâm Ngọ, (1702, năm Len Kếtpun đến chiếm đóng Côn Đảo T.G), đội Hoàng Sa thu 1ượm được 30 thỏi bạc.
– Năm Ất Dậu, (1705, năm có cuộc nổi dậy đánh đuổi người Anh - T.G),
đội Hoàng Sa thu lượm được 126 thỏi bạc.
– Từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ, (1709- 1713), chỉ được mấy cân đồi
mồi và hải sâm, có lần họ chỉ thu lượm được mấy khối thiếc, mấy chiếc bát
đá và 2 khẩu súng đồng”4.
Như vậy cuộc nổi dậy của người Macátxa đêm 3-2-1705 là do chính
quyền nhà Nguyễn tổ chức và chỉ huy nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ xứ Đàng Trong. Kế hoạch diệt bọn hải phỉ An - Liệt được chuẩn bị
chu đáo: chúa Nguyễn khôn khéo cài người vào nội bộ địch, lợi dụng bọn
lính Macátxa đánh thuê đang bất mãn đối với bọn chủ người Anh để gây
nên cuộc binh biến, kết hợp với sự hỗ trợ từ bên ngoài. Sự việc được giải
quyết gọn lẹ , không gây rắc rối trong quan hệ bang giao vì đã có tù binh
trong tay, địch khó lòng chối cãi, trong một thời gian lâu dài về sau tránh
được sự nhòm ngó của một cường quốc hải quân hùng mạnh vào bậc nhất
thời đó .
Năm 1771, cuộc khởi nghĩa to lớn của nông dân Tây Sơn bùng nổ và
phát triển mau lẹ. Từ 1776 trở đi, quân Tây Sơn nhiều lần tấn công vào căn
https://thuviensach.vn
cứ cửa chúa Nguyễn ở Gia Định. Tháng 3 năm 1782, thủy quân của
Nguyễn Ánh bị đại bại ở cứa Cần Giờ. Tháng 6 năm1783, thủy quân Tây
Sơn đánh Phú Quốc. Nguyễn Ánh trốn chạy sang đảo Côn Lôn, đem theo
hơn 100 gia đình thuộc hạ để sau này lập nên ba làng An Hải, An Hội và
Cỏ Ống xây dựng căn cứ, tính kế phục thù. Chiến thuyền Tây Sơn đuổi
theo nhưng sau đó, Nguyễn Ánh chạy thoát về Phú Quốc vì thuyền Tây
Sơn gặp bão.
Sau thất bại này, theo lời khuyên của giám mục Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh
đã chọn con đường cầu viện nước Pháp chống Tây Sơn để giành lại ngôi
báu. Bá Đa Lộc là Khâm sai tòa Thánh ở Gia Định từ 1765, đã giúp
Nguyễn Ánh khi bị Tây Sơn đánh đuổi vào đây, sự gắn bó giữa họ với nhau
đã là nguồn gốc cho việc Pháp can thiệp ngày càng sâu vào Việt Nam.
Tháng 12 năm 1784, Nguyễn Ánh dã giao ấn tín và hoàng tử Cảnh cho Bá
Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Chủ trương phản động này đã bị chính Phi
Yến, người vợ trẻ của Nguyễn Ánh phản đối, nhưng Ánh không nghe và
đày bà lên hòn Côn Lôn Nhỏ cho đến chết. Hòn đảo từ đấy mang tên Hòn
Bà.
Ngày 28-11-1787, thay mặt Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc đã ký Hiệp ước
Vécxai (Versailles) với đại diện vua Pháp là Đờ Mông-môranh (De
Montmorin), theo đó thì Pháp hứa giúp Nguyễn ánh 4 tàu chiến, 1.200 lính,
200 pháo thủ, 250 lính người Phi . Để đổi lại, Nguyễn Ánh nhượng cho
Pháp chủ quyền ở Cửa Hàn (Đà Nẵng), cho Pháp được độc quyền thương
mại ở Nam Kỳ. Quần đảo Côn Lôn cũng bị nhượng cho Pháp (điều 3 và 5,
Hiệp ước Vécxai).
Từ tháng 2 đến hết tháng 12 năm 1787, khâm sứ của giáo hoàng Bá Đa
Lộc đã được yết kiến vua Lui XVI chính tay ông ta đã vạch ra mấy phương
án thực hiện cuộc xâm lược. Với quân số và vũ khí dự kiến, ông ta đã đưa
ra kế hoạch tác chiến đánh thẳng vào Quy Nhơn. Quân lính Pháp dưới sự
yểm trợ bằng hỏa lực pháo binh đặt trên các tàu chiến, sẽ đổ bộ lên Quy
Nhơn, nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh.
https://thuviensach.vn
Cũng chính vị thầy tu này nêu lên số lượng lương thực, thực phẩm, các
dụng cụ cần thiết và cả số thuốc men cần đem theo. Nhưng chế độ quân chủ
chuyên chế Pháp đang khủng hoảng trầm trọng. Cuộc khủng hoảng tài
chính đã trở thành nguyên nhân trực tiếp chủ yếu dẫn đến cuộc Đại cách
mạng Pháp năm 1789, đập tan chế độ phong kiến, đem lại thắng lợi cho
giai cấp tư sản Pháp.
Trong tình hình như vậy, triều đình Pháp không thể thực hiện được
những cam kết, Bá Đa Lộc đã trở về tay không. Bá tước Đờ Môngmoranh
đã gửi những chỉ thị mật cho Cônuây (Conway), người chỉ huy lực lượng
pháp ở Ấn Độ không thực hiện cuộc can thiệp vì tình hình tài chính không
cho phép. Không cam chịu thất bại, vị giám mục có đầu óc thực dân này
ghé qua Pôngđisên vận động một số thương nhân Pháp hùn tiền mộ lính,
mua súng ống giúp Nguyễn Ánh. Tháng 9 năm 1788, tàu Đơriađơ và La
Tron đã chở tới Côn Đảo 1.000 khẩu súng trường và mấy khẩu thần công.
Cần nhắc lại rằng từ khi ký kết Hiệp ước Vé...
Lịch Sử Nhà Tù Côn Đảo (1862 - 1975)
Tác giả: Nhiều Tác Giả
Nhà xuất bản: Nxb Tổng hợp TP.HCM
Định dạng: Bìa cứng
Ngày phát hành: 01/2010
Giá bìa: 120.000 ₫
Số trang: 700 trang
Nguồn text: Giangtvx (quansuvn.net)
Epub (02/2019): @lamtam, tve-4u.org
https://thuviensach.vn
GIỚI THIỆU
Cuốn sách là bức tranh toàn cảnh về cuộc đấu tranh ở Côn Đảo qua các
thời kỳ, là khúc hùng ca trong thiên anh hùng ca vĩ đại của dân tộc trong
cuộc chiến chống thực dân, đế quốc để giành độc lập tự do.
Nhà tù Côn Đảo từ cuối thế kỷ 19 luôn luôn phản ánh cuộc đấu tranh
cách mạng của nhân dân qua các giai đoạn, bởi lẽ địch giam ở đây những
chiến sĩ cách mạng mà chúng cho là nguy hiểm nhất ở khắp các miền của
đất nước.
https://thuviensach.vn
LỜI TỰA CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN GIÀU
(Viết riêng cho cuốn Nhà tù Côn Đảo 1955-1975)
Tôi được bạn bè yêu cầu viết tựa cho sách, rất nhiều lần, nhưng lần này,
giới thiệu tập “Lịch sử Nhà tù Côn Đảo 1955-1975” tôi lo quá; đọc một lần
đã thấy lo đọc hai lần càng thấy lo. Lo không giới thiệu được nội dung cơ
bản của tập sử, nội dung cơ bản ấy là cực kỳ sâu sắc, bởi hàm ý những sự
việc và nhân cách của những con người được kể ở trong sách.
Những sự việc và con người được ghi lại một cách khách quan, khoa
học, đáng là đề tài vô tận của một thiên anh hùng ca mà có lẽ khó có một
nhà thơ nào ở nước ta và cả trên thế giới tìm ra ở trong trí tương tượng
thâm viễn của mình. Trong trường hợp này, một bài giới thiệu của một thầy
giáo lịch sử như tôi chỉ có thể là một lời mời đọc, đọc để rồi đọc lại, đọc đi
đọc lại để mà suy gẫm, suy gẫm về đạo làm người chiến sĩ yêu nước yêu
dân, suy gẫm về con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, khi đứng
trước cảnh ngộ thiên nan vạn nan, khi đứng trên bờ vực giữa cái sống và
cái chết, giữa cái vinh không cần ai biết và cái nhục mà chính mình cảm
thấy hơn ai hết. Tập sách “Lịch sử Nhà tù Côn Đảo 1955-1975” thực tế là
một quyển sách đạo đức học, một quyển triết học.
Trong đời hoạt động cách mạng của mình, tôi đã phải trải qua nhiều nhà
tù, trong số đó có ngục Côn Lôn. Tôi lại được đọc nhiều sách xưa nay nói
về nhà tù của các vua chúa, của tư bản thực dân, của bè lũ phát xít. Như
vậy, tôi có khá nhiều tài liệu để so sánh các chế độ nhà tù tàn bạo, thì các
nhà tù đó cái nào cũng tàn bạo, chỉ có mức tàn bạo, cách tàn bạo và mưu
sâu bên trong là khác nhau. Cho đến trước khi Hồng quân Liên Xô cắm cờ
chiến thắng trên nóc nhà quốc hội Berlin, thì nhà tù của Hitler là tàn bạo
nhất, với ý nghĩa chính là giết nhiều người nhất: hàng triệu, hàng triệu dân
Do Thái bị giết bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật. Nói ra thì có lẽ không
https://thuviensach.vn
phải, nhưng cái chết bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật, giết một lần hàng
vạn sinh linh, cái chết đó người chiến sĩ tù nhân Việt Nam mình có mấy ai
sợ đâu? So với cái tàn ác ở nhà tù Côn Đảo dưới chế độ Mỹ ngụy, thì nhà tù
Hitler giống như ao cạn so với vực thẳm. Mỹ ngụy thâm độc hơn Hitler biết
bao nhiêu! Nhà tù Côn Lôn thời Pháp thuộc đã là địa ngục ở trần gian rồi,
đến thời Mỹ ngụy, là địa ngục trong địa ngục, và nói như vậy cũng chưa
vừa.
Bị đày ra Côn Lôn (1935), khi ấy tôi từng bị tống ngay vào xà lim số 1,
xà lim này rộng 3 x 3 x 1,5 mét, còng một chân. Mà trời ơi, làm sao so
được với thời Mỹ ngụy cũng trong cái xà lim đó , Mỹ ngụy nhốt tới 28
người, cửa đóng, lỗ thông hơi bịt kín, tù nhân lại còng tréo 2 tay và 2 chân.
Dưới thời thực dân Pháp, tụi tôi ở Banh I bãi thực chống ăn khô mục, cuộc
đấu tranh dài nhất là 9 ngày, bị đánh một lần suốt buổi bằng mấy cần xé
mây cà dông đến mây tả tơi ra. Vụ Tôn Đức Thắng ở trong số đồng chí bị
khủng bố hôm ấy, lưng mỗi người bầm tím 100%.
Vậy mà so với anh em bị biệt giam thời Mỹ ngụy, cũng ở đây, thì có
“thấm” gì? Nhiều lần anh em bãi thực đòi ăn cơm có rau, mà phải bãi thực
đến 20 ngày, một tháng, 60 ngày và hơn nữa, bọn chúa ngục lại đập bể các
lu nước, bao: “Để bây chết đói và chết khát cho trọn”'. Mà, đã yên để
không ăn không uống đâu, ngày ngày chúng vào khám, đánh tù nhân đấu
tranh bằng củi đòn, củi chẻ; mây càdông đánh mãi thì tả tơi, củi đòn củi chẻ
đánh mãi không mòn, chỉ có sọ vỡ, thịt nát mà thôi!
Đã vậy, ở Chuồng Cọp, bọn gác dang, giám thị còn ban ngày thì đánh,
ban đêm thì phân công nhau, đứng trên dội nước lạnh xuống, 10 đêm, 20
đêm, 30 đêm như thế, liên tục, thân xác con người nào mà chịu nổi?
Vậy mà chiến sĩ biệt giam cộng sản ở Chuồng Cọp Côn Lôn chịu nổi, thà
chết, không hàng!
Hành hạ một cách tàn ác như vậy, để làm gì?
Có phải để thỏa mãn cái thú tính cửa bọn Mỹ ngụy và những quỷ sứ tay
sai của chúng nó chăng?
https://thuviensach.vn
Không Cốt để cho các chiến sĩ cách mạng phải:
1. Chịu ký tên “ly khai Đảng Cộng sản”;
2. Hô lên “đả đảo Hồ Chí Minh”!
Chỉ cần hạ bút ký tên và mở miệng hô năm tiếng thì khỏi còng, khỏi củi
chẻ, khỏi bị xối nước lạnh. Có bạn đã nhận thức đúng, hết sức đúng, rất sâu
sắc rằng:
“Hành hạ người tù đau đớn tột cùng về thể xác, truy bức người tù căng
thẳng tột độ về tâm lý, dai dẳng và trường kỳ, chúng đẩy người tù đến bên
miệng hố của tử thần, để họ day dứt, trăn trở, chết dần chết mòn từng giờ,
từng phút. Song cứ mỗi lần họ hấp hối, họ tỉnh dậy, họ thề với lương tâm
một lần nữa quyết chết cho lý tưởng, chết để vẹn toàn khí tiết, thì chúng nó
lại nhượng bộ một chút, nới ra một tí, cho họ ăn uống trở lại, sinh hoạt bình
thường để họ khát khao sự sống. Chập chờn giữa ranh giới mong manh của
sự sống và cái chết hàng chục lần, hàng trăm lần như vậy, thì tư tưởng, tâm
trạng con người luôn luôn căng thẳng, dễ dao động, chẳng khác gì một thỏi
thép quẳng vào lò, nung đỏ lên rồi quăng xuống nước cho nó biến dạng, rạn
nứt. Bọn cải huấn, công an, mật vụ, tâm lý chiến chực sẵn để chộp lấy
những giây phút dao động, mềm yếu của tù nhân mà đánh tiếp những đòn
tiến công khác”.
Hiểm độc và tàn bạo, càng tàn bạo càng hiểm độc của Mỹ ngụy và tay
sai là như thế.
Cho nên, đã không ít tù chính trị sau bao nhiêu cuộc giao tranh bị thất
bại, bị khuất phục trước những ngón đòn tàn bạo và hiểm độc ấy. Hàng
ngàn người ở nhà tù Côn Đảo trở về với tấm thân tàn phế, quằn quại cho
đến chết, chết trong ân hận đã lỡ bước sa cơ.
Nhưng số đông tù chính trị, nếu bị khuất phục thì ấy là khuất phục tạm
thời ngoài mặt để giư lấy mạng sống, hòng có ngày chiến đấu phục thù.
Một số khác, không ít người, sống lại, chết đi hàng chục lần mà vẫn
không khuất phục. Trong cuộc chiến đấu dài 20 năm này ( 1955-1975),
trong cuộc đấu tranh liên tục, thiên hình vạn trạng này, giữa tàn bạo có vũ
https://thuviensach.vn
khí tận răng và chính nghĩa giải phóng ở trong thế tay chân bị còng, chỉ còn
khí tiết và lý tưởng là vũ khí, thì rốt cuộc phần thắng đã về ai?
Kỳ diệu thay mà cũng là tất yếu thay, như lời của Nguyễn Trãi tạc trên
bia đá Lam Sơn, yếu thắng mạnh, ít thắng nhiều, chí nhân thắng cường bạo.
Trong trường hợp cuộc đấu tranh rung động trăng sao, ở Côn Đảo từ 1955
đến 1975, khí tiết cộng sản đã thắng cường quyền và mưu ma chước quỷ
của Mỹ ngụy. Những “ngôi sao” của biệt giam Chuồng Cọp hãy còn sống
và hãy còn giương cao ngọn cờ Hồ Chí Minh, kẻ địch không có cách nào
hạ nổi! Ngọn cờ ấy, thực tế vẫn là ngọn cờ của hầu hết anh em đã gặp phải
lúc sa cơ mà ở đáy lòng không bao giờ có ý “ôm cầm thuyền ai”, đông đảo
trở lại hàng ngũ đấu tranh. Ngọn cờ ấy lại là tiêu biểu ở Côn Đảo, xứng
đáng với ý chí toàn dân Việt Nam đang quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, ngụy
nhào”.
Tôi đồng tình với người viết sách “Lịch sừ Nhà tù Côn Đảo 1955-1975”
tuyên dương tinh thần đấu tranh trực diện chống li khai của tù chính trị câu
lưu Trại I, của tù án chính trị chống chào cờ ngụy với những tấm gương
sáng tiêu biểu như Cao Văn Ngọc, Lưu Chí Hiếu, Trần Trung Tín; tuyên
dương sự bền bỉ chiến đấu vô song của “Năm ngôi sao tù chính trị câu lưu”,
của “Sáu ngôi sao tù án chính trị”. Tôi thành thật khâm phục, xin cúi đầu
trước ông già Cao Văn Ngọc vốn làm chức hương quản làng dưới thời
Pháp, theo cách mạng từ mùa thu 1945; ông chỉ là thư ký nông hội xã; ông
không phải là đảng viên cộng sản mà kiên quyết đến cùng, đấu tranh chống
ly khai Đảng, chống hô khẩu hiệu đả đảo Cụ Hồ .
– Chúa ngục hỏi: “Ông không phải là đảng viên cộng sản, ông mắc nợ gì
với Hồ Chí Minh mà không chịu hô đả đảo” .
– Già Ngọc bình tĩnh đáp: “Tôi mắc nợ Cụ Hồ Chí Minh đã đem lại độc
lập tự do cho nước Việt Nam”.
Tôi khâm phục người thợ giày Lưu Chí Hiếu, lưu lạc từ Nam Định ra Hà
Nội, vào Sài Gòn, tham gia khởi nghĩa và kháng chiến, chức vụ chỉ tương
đương tiểu đội trưởng, nhưng lại thể hiện xuất sắc bản lĩnh người cộng sản,
quyết tử chống li khai trong lần quyết định vận mệnh của cuộc chiến đấu
https://thuviensach.vn
vào lúc hiểm nghèo, tên anh đã trở thành một ngọn cờ của tù nhân chính trị
toàn đảo.
Đó là thứ “Vàng trong lửa”, đó là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách
mạng, cua nhân cách Việt Nam, của khí tiết cộng sản.
Mong rằng các vị anh hùng ở nhà tù Côn Đảo được ca tụng xứng đáng
nhất bằng những tập sách gối đầu giường cho thanh niên, được biểu dương
xứng đáng nhất bằng những pho tượng đặt ở quê hương và ở các nhà
trường.
Mong rằng các sự tích ở Côn Lôn, từ thuở Pháp biến nó thành nơi lưu
đày tù chính trị cho đến thời 1955-1975, được ghi tạc chẳng những bằng
tượng, bằng tranh vẽ và tranh điêu khắc mà còn được phổ biến rộng rãi
bằng những cuốn phim. Tất cả những công việc đó của nhà làm lịch sử và
làm văn nghệ đều nhằm để lại cho các thế hệ những tấm gương sáng ngời
của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Sau hết, tôi như là một thầy giáo có nghiên cứu lịch sử xin hoan nghênh
các tác giả Lịch sử Nhà tù Côn Đảo đã có công sưu tầm tư liệu, “nói có
sách, mách có chứng”, đã chú ý đến việc hết sức cần thiết là gặp từng cựu
tù quan trọng nào có thể gặp được, chép từng bản lý lịch, ghi từng chuyện
kể; bằng cách đó, tác giả lưu giữ, tập hợp được một số lượng lớn tư liệu
cho bản thân mình, còn viết nhiều về Côn Đảo, có thể là viết cả đời những
ai là bạn đồng hành, văn nhân hay nghệ sĩ, trong sự nghiệp tái hiện cái địa
ngục trần gian - “ngục Côn Đảo”.
Giáo sư Sử học
TRẦN VĂN GIÀU
https://thuviensach.vn
Mở Đầu:
VÀI NÉT VỀ ĐỊA LÝ VÀ
LỊCH SỬ QUẦN ĐẢO CÔN LÔN
Thiên nhiên Côn Đảo
Côn Lôn là một trong những quần đảo tiền tiêu của nước ta, “nguy nga
đứng trấn giữa biển Đông” (Đại Nam nhất thông chí), bao gồm 16 hòn đảo
lớn nhỏ, với tổng diện tích là 76,71km2, trải ra trên một vùng biển có tọa
độ địa lý từ 106°3' đến 106°45' kinh độ đông; từ 8°34' đến 8°49' vĩ độ
bắc(1), cùng một kinh độ với Thành phố Hồ Chí Minh và cùng một vĩ độ
với thị trấn Năm Căn (Cà Mau).
Đường biển từ Côn Lôn đến Vũng Tàu dài 179 km, đến Thành phố Hồ
Chí Minh 230 km, đến cửa sông Hậu 83 km, đến thành phố Cần Thơ 165
km.
Sử sách nước ta xưa nay gọi hòn đảo lớn nhất là đảo Côn Lôn (gọi tắt là
Côn Đảo), cả quần đảo này cũng được gọi chung bằng địa danh ấy - quần
đảo Côn Lôn. Người ta cũng thường gặp những biến dạng gần gũi của tên
gọi đó như: Côn Lôn Sơn, Côn Sơn, Côn Nôn.
Từ ngày thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo (30-5-1979), Côn Đảo
là địa danh chính thức của hòn đảo lớn nhất cũng như của cả quần đảo.
Đảo Côn Lôn là một hòn đảo lớn từ đông sang tây, dài 15 km, chỗ rộng
nhất là 9 km, chỗ hẹp nhất khoảng một km. Với diện tích 51,52 km2, đảo
Côn Lôn chiếm gần 2/3 tổng diện tích quần đảo. Trên đảo có thị trấn Côn
Đảo nằm ở tọa độ 8°40'57” vĩ độ bắc, l06°36'l0” kinh độ đông. Nói đến
quần đảo Côn Lôn là nói đến hòn đảo này, vì đời sống kinh tế - chính trị và
xã hội của cả quần đảo tập trung ở đây. Từ khi Pháp thiết lập nhà tù, Côn
Đảo không còn dân thường. Không kể tù nhân, bộ máy cai trị (kể cả gia
quyến họ) trước Cách mạng tháng Tám (1945) không đến 500 người.
https://thuviensach.vn
Hòn Bà tiếp giáp với hòn Côn Lôn về phía Tây - Nam, hai đảo chỉ cách
nhau bằng khe nước Họng Đầm không quá' 20m. Giữa hai đảo này là Vũng
Đầm, còn gọi là vịnh Tây - Nam, giống hình cái quạt mở về hướng tây bắc.
Vũng Đầm sâu lại ở vào nơi khuất gió, thuận tiện cho việc xây dựng một
bến cảng tốt.
Hòn Bảy Cạnh nằm trước mặt thị trấn Côn Lôn, trên đó có ngọn Hải
Đăng Côn Đảo, rọi đường cho tàu bè quốc tế đi lại.
Hòn Bông Lan nằm sát Hòn Bảy Cạnh là, từ xa trông giống như nứa
chiếc bánh bông lan.
Hòn Cau cách Côn Lôn chừng 12 km về hướng Đông - Bắc, nơi chim
yến hay làm tổ. Dưới thời phong kiến, người dân ở đây phải thu lượm tổ
yến (yến sào) để dâng nộp cho triều đình. Đất đai Hòn Cau phì nhiêu, cây
cỏ tươi tốt. Xưa kia ở đây có loại cau quả to, vỏ hồng, vị ngon, người Gia
Định rất ưa chuộng, mua với giá cao (Gia Định thông chí).
Hòn Tài Nhỏ, Hòn Tài Lớn, Hòn Trác Nhỏ, Hòn Trác Lớn, họp thành
một chuỗi đảo nhỏ nối tiếp. Hòn Bảy Cạnh, kéo dài từ đông bắc xuống tây
nam, che chắn cho đảo Côn Lôn.
Hòn Trọc, còn gọi là Hòn Trai vì ở đó có nhiều trai ốc biển. Hòn Tre
Lớn, Hòn Tre Nhỏ tiếp nối nhau che chắn phía tây và tây bắc đảo Côn Lôn.
Hòn Trứng, còn gọi là Hòn Đá Bạc nằm xa đảo Côn Lôn về hướng Đông
- Bắc. ở đây không có cây cối nhưng lại là nơi trú chân, làm tổ, đẻ trứng
của các loài chim biển, biến đảo này thành một trong những “sân chim” của
miền Nam nước ta.
Hòn Vung trông giống như chiếc vung nồi úp chụp xuống mặt biển xanh,
là một hòn đảo nhỏ ở phía Tây - Nam quần đảo.
Từ năm 1995, Nhà nước ta giao cho huyện Côn Đảo được quản lý thêm
2 hòn đảo mang tên Hòn Anh và Hòn Em ( Hòn Trứng lớn và Hòn Trứng
nhỏ ) cách trung tâm thị trấn Côn Đảo 27 hải lý về phía Tây (chếch Nam
50).
https://thuviensach.vn
Diện tích các hòn đảo kể trên cộng lại chỉ bằng nửa diện tích đảo Côn
Lôn. Đất canh tác ở đây không đáng kể, trừ mấy hòn đảo lớn như Hòn Bà,
Hòn Bảy Cạnh, Hòn Cau, các đảo khác trông như những trái núi đá vượt
lên khỏi mặt biển với những bãi cát nhỏ, chói lòa ánh nắng trong những
ngày đẹp trời.
Địa hình quần đảo Côn Lôn chủ yếu là đồi núi. Diện tích núi đồi là 6.328
héc ta, chiếm 88,4% tổng diện tích tự nhiên, đá lộ tương đối nhiều. Những
ngọn núi cao nhất đều ở đảo Côn Lôn, như Núi Chúa cao tới 515m. Ngọn
núi phía nam thị trấn Côn Đảo (núi An Hải) cao 577m.
Thị trấn Côn Đảo nằm trên một thung lũng hình bán nguyệt, dài từ 8 đến
10 km, rộng từ 2 đến 3 km, ba bề có núi bao bọc, mặt trông ra Vịnh Côn
Lôn (còn gọi là vịnh Đông - Nam hay Vịnh Đề Lao). Khu vực tương đối
bằng phẳng thứ hai là làng Cỏ Ống. Hai thung lũng này đất đai bằng phẳng,
có nhiều chỗ trũng tạo thành hồ nước và ruộng trồng lúa. Côn Đảo không
có sông mà chỉ có những dòng suối cạn, hai con suối đáng kể đều ở trong
khu vực thị trấn. Dòng suối thứ nhất bắt nguồn từ phía Sở Tiêu, Sở Lò
Gạch chảy vòng phía sau thị trấn và đổ ra vịnh Đông - Nam gần Sở Muối
An Hội. Dòng suối thứ hai bắt đầu từ khu vực Sở Ruộng dưới chân Núi
Chúa và chảy ra cống Lò Bò gần Mũi Lò Vôi. Đất đai nông nghiệp chiếm
3,2% tổng diện tích, chủ yếu tập trung ở hai khu vực này và ở Hòn Cau.
Khí hậu Côn Đảo là loại khí hậu đại dương. Nhiệt độ trung bình hàng
năm là 26,9°C. Lượng mưa trung bình là 2.200 mm. Côn Đảo có 2 mùa rõ
rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến
tháng 4. Tháng một là tháng khô nhất trong năm. Mùa khô thời tiết mát mẻ
hơn, nhiệt độ trung bình là 24°C, tháng 2 là tháng mát nhất, nhiệt độ trung
bình là 22°C. Oi bức nhất là tháng 5, có lúc tới 34°C. Độ ẩm trung bình
hàng năm trên đảo là 80%.
Gió mùa Đông - Đông Bắc ở Côn Đảo thường rất mạnh, từ cấp 6 đến cấp
7, nhân dân ta gọi là gió chướng, gây nhiều trở ngại cho sinh hoạt. Người tù
thường lợi dụng mùa gió này để thả bè vượt ngục trở về đất liền.
https://thuviensach.vn
Nhìn chung, khí hậu Côn Đảo trong lành, thuận lợi cho sức khỏe con
người. Nhưng điều này còn tùy thuộc rất nhiều ở vị trí cụ thể, nơi ở cao hay
thấp, có chướng ngại che chắn gió nhiều hay ít. Nước ngầm là nguồn nước
ngọt chủ yếu ở đảo để dùng trong sinh hoạt cũng như trong mọi hoạt động
kinh tế.
Côn Đảo còn là một bảo tàng thiên nhiên lớn với Rừng Quốc gia Côn
Đảo. Rừng có diện tích 6.043 hecta (chiếm 83,7% tổng diện tích tự nhiên
của huyện đảo.
Rừng gồm 3 hệ sinh thái chủ yếu:
– Rừng nhiệt đới thường xanh quanh năm.
– Rừng đồi cát khô .
– Rừng đước và rừng sau đước.
Những khảo sát sơ bộ cho thấy ở đây có 650 loại - thực vật thuộc về 22
lớp, 71 họ; đại diện cho các vùng khí hậu Việt Nam (cả Bắc, Trung, Nam),
trong đó có 26 loại cây lấy gỗ với nhiều loại gỗ quý như: cẩm lai, quăng,
sao, giáng hương. . . và 76 loại cây dược liệu. Trong rừng có 100 loại chim
và thú lưỡng cư thuộc 50 họ và 22 lớp; 18 loại động vật có vú; 65 loại
chim; 25 loại bò sát; 6 loại ếch và 150 loại động vật thân mềm. Động vật
quí hiếm có sóc đen, sóc da đỏ, sóc bay, khỉ vàng, gầm ghi trắng, đại bàng
biển, trăn... Hòn Trứng là nơi cơ trú của các loại chim biển, mật độ dày đặc,
có thể so sánh với những sân chim nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ . Đặc biệt
ở đây có chim Điêu lặt xanh, ó biển là những loại chim hiếm trên thế giới.
Trong lòng biển có những bãi hải sâm lớn, nơi cư ngụ của cá heo. Tại
những bãi biển của Hòn Bảy Cạnh, Hòn Tre Lớn là nơi sinh đẻ của vích và
đồi mồi. Nhiều hang và vách đá của Hòn Cau, Hòn Tre Nhỏ , vịnh Đầm Tre
. . . là nơi cơ ngụ của chim yến.
Ngoài khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, ở các
vùng núi của Côn Đảo có khí hậu mát mẻ như cao nguyên Đà Lạt, Rừng
Quốc gia Côn Đảo là bức tranh thu nhỏ của thảm thực vật rừng Việt Nam.
Cũng ở đây nhiều di tích khảo cổ học giá trị được phát hiện, hé mở một
https://thuviensach.vn
triển vọng lớn trong việc tìm hiểu các nền văn hóa tiền sử từng tồn tại trên
đất nước ta. Chỉ tính riêng Côn Lôn đã có 24 bãi biển lớn nhỏ. Tất cả
những tiềm năng đó khiến Côn Đảo có khả năng hiện thực trở thành một
trong những hòn đảo du lịch nổi tiếng, không thua kém các hòn đảo du lịch
nổi tiếng khác trên thế giới. Nhưng chế độ thực dân cũ và mới, hơn một thế
kỷ qua Côn Đảo đã trở thành một nhà tù, hơn nữa tại là một nhà tù dã man
nhất, chất chồng những tội ác “trời không dung, đất không tha” của chủ
nghĩa đế quốc.
Trước ngày giải phóng, những di vật khảo cổ học phát hiện được một
cách lẻ tẻ, ngẫu nhiên. . . lưu trữ tại các bảo tàng đã gợi ý cho ta thấy: vào
giai đoạn hậu kỳ thời đá mới - cách đây trên dưới 4.000 năm, lớp cư dân
đầu tiên đã có mặt tại quần đảo Côn Lôn. Họ biết làm nông nghiệp dùng
cuốc kết hợp với thu lượm hải sản, săn bắt, đánh cá. Sau đó, họ đã biết
nghề luyện kim đồng và sắt. Tuy chưa có được những cuộc khai quật quy
mô, nhưng qua nghiên cứu so sánh các di vật ngẫu nhiên tìm được ta nhận
biết được mối quan hệ khăng khít giữa văn hoá vật chất của cơ dân Côn
Đảo thời tiền sử với khối cư dân cùng thời ở lưu vực sông Đồng Nai, ở
duyên hải Đông Nam Bộ ngày nay.
Từ thập niên 80 thế kỷ XX, công cuộc tìm kiếm và thăm dò khảo cổ học
bắt đầu được tiến hành tích cực do nỗ lực của các bảo tàng địa phương và
Trung ương, của các cơ quan khảo cổ học, sử học ở Trung ương. Việc
nghiên cứu tiền sử ở quần đảo đã có những tiến mới, vững chắc: nhiều cuộc
thám sát được tiến hành có hệ thống tại các đảo lớn (Côn Lôn, Hòn Bảy
Cạnh, Hòn Bà và Hòn Cau). Đã phát hiện: di tích cư trú lớn như làng cổ
Hòn Cau (diện tích ước 8.000 m2), những mộ táng ở Hòn Bảy Cạnh, dấu
vết nơi cư trú của người tiền sử ở Hòn Bà, đã khảo sát lại địa điểm khảo cổ
học ở đảo Côn Lôn lớn (di chỉ Hàng Dương). Chủ nhân của các di tích
khảo cổ này đều đã biết luyện đồng, sắt.
Quan trọng nhất, đáng kể nhất là cuộc khai quật khảo cổ ở đảo Hòn Cau
- một trong 4 hòn đảo lớn của quần đảo. Qua phân tích những hiện vật khảo
cổ phong phú ở làng cổ Hòn Cau trong đợt khai quật khá quy mô trên một
https://thuviensach.vn
diện tích đào 175m2, các nhà khoa học đã đi tới kết luận quan trọng: di tích
làng cổ Hòn Cau có mối quan hệ văn hóa mật thiết, gắn bó với nhiều di chỉ
ven biển của cả nước, như Quỳnh Văn (Nghệ An), Sa Huỳnh (Quảng
Ngãi), Xóm Cồn (Khánh Hòa) và một số di tích cùng loại ở lưu vực sông
Đồng Nai (miền Đông Nam Bộ). Làng cổ Hòn Cau được xác định niên đại
trong khoảng từ 2.500 - 3.000 năm trước đây.
Do vị trí thuận lợi giữa biển Đông, trên đường giao lưu Đông - Tây, Côn
Đảo được người phương Tây biết đến từ rất sớm. Năm 1294, đoàn thuyền
gồm 14 chiếc của nhà du hành người Ý, Máccô Pôlô (Marco Polo), dạt vào
trú tại Côn Đảo sau khi bị bão đánh chìm 8 chiếc. Trong tập hồi ký của
mình, Máccô Pô lô đã miêu tả quần đảo này như một nơi giàu đẹp.
Năm 1516, nhà hàng hải Bồ Đào Nha, Anđơrađơ (Pernão Perès de
Andrade) đã tới Côn Đảo vào trung tuần tháng 9. Ông ta cho biết hải đảo
này là nơi các nhà đi biển rất hay lui tới, thường là để kiếm nước ngọt; thủy
thủ của ông đã thấy ở đây có bán nhiều gà, rùa biển và họ còn thấy có cả
nho nữa.
Khoảng giữa những năm 60 thế kỷ XVI, thi hào Bồ Đào Nha Camôidơ
(Lui Vaz de Camões) - người đã làm rạng danh nền văn học Bồ thời Phục
Hưng cũng đã ghé qua Vũng Tàu và Côn Đảo đem theo tập bản thảo cuốn
sử thi bất hủ Os Lusiadas còn giữ lại được sau nạn đắm tàu ở cửa Sông
Tiền. Đây là tập thơ đầu tiên của của nền văn học phương Tây có viết về
đất nước ta, trong đó có những vần thơ đẹp đẽ nói về xứ Đàng Trong.
Trong quá trình lập nghiệp ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn (cũng như
các vua Triều Nguyễn sau này) đều rất quan tâm đến việc hành xử chủ
quyền của đất nước đối với các vùng biển đảo trong hải phận. Thời này, tàu
thuyền các cường quốc châu Âu tăng cường hoạt động tìm kiếm thị trường,
thuộc địa hoặc để đặt thương điếm với mưu toan bành trướng ảnh hưởng.
Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), việc tuần tiễu bảo vệ chủ
quyền cũng như quyền khai thác tài nguyên ở các vùng biển được tổ chức
chặt chẽ, chu đáo. Công việc nặng nề được giao phó cho các đội hải thuyền
đặc biệt, do Nhà nước tổ chức ra, hoạt động theo những chế định nghiêm
https://thuviensach.vn
ngặt. Các vùng biển đảo đều thống nhất các đơn vị hành chính nhất định,
gắn bó với một vùng hoạt động nhất định của mỗi hải đội. Dữ liệu còn lại
cho biết: xứ Đàng Trong hồi đó có những hải đội với quy mô tổ chức to
nhỏ khác nhau:
– Đội Hoàng Sa: Là đội lớn nhất, quan trọng nhất phụ trách vùng biển
Thuận Quảng ở ngoài khơi xa, nơi có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và
cả vùng biển phía nam Trường Sa nửa. Đội này được thành lập cuối thế kỷ
XVII - đầu thế kỷ thứ XVIII, hoạt động mạnh mẽ dưới đời chúa Nguyễn
Phúc Chu. Đời Gia Long, hoạt động cửa đội này vẫn được duy trì tích cực,
như trước.
– Đội Bắc Hải: Được thành lập sau sự kiện đánh đuổi người Anh, khi họ
ngang nhiên đến Côn Đảo, lập pháo đài (1702-l705). Quần đảo Côn Lôn,
trước nằm trong phạm vi hoạt động tuần tiễu và khai thác hải sản của Đội
Hoàng Sa, khi lập đội Bắc Hải thì nằm trong phạm vi hoạt động của đội
này. Nhưng thời gian không dài, vì ngay sau đó đội Bắc Hải lại được đặt
dưới quyền cai quản của đội Hoàng Sa. “Lại có Đội Bắc Hải mộ dân thôn
Tư Chính, Bình Cố hoặc xã Cảnh Dương sung vào. Được lệnh cưỡi thuyền
nhỏ ra các đảo Côn Lôn ở Bắc Hai thu lượm hóa vật, cũng do đội Hoàng Sa
cai quản luôn”. (Đại Nam thực lục tiền biên, q.10; chi tiết hơn: xem Phủ
biên tạp lục, quyển 2, tờ 84 a, b). Đội Bắc Hải đặt dưới quyền chỉ đạo của
các quan chức Phủ Gia Định với một quy chế nhân sự và cách thức quản lý
thông thoáng hơn. Nhưng về biên chế thì chủ yếu vẫn là dân thạo ghe biển
trên đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré - thuộc phủ Bình Thuận).
– Đội Thanh Châu: Hoạt động trong vùng biển đảo phụ Quy Nhơn.
– Đội Hải Môn: (thuộc Phủ Bình Thuận), hoạt động tuần tra và thu lượm
hải sản (yến sào là chủ yếu) ở đây.
Sau cuộc kinh lý của Nguyễn Hữu Cảnh 141 năm, Côn Đảo thuộc tỉnh
Vĩnh Long quản hạt. Tòa thành đất ở Côn Đảo do Đội Thanh Hải xây dựng
vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) và mang tên “Thành đất Thanh Hải
(Thanh Hải bảo). So với các thành đất cùng thời, thành Côn Lôn có quy mô
khá lớn: chu vi 50 trượng 8 thước 9 tấc; cao 4 thước 3 tấc, có 2 cửa, 1 pháo
https://thuviensach.vn
đài, 1 kỳ đài. Trong lần trùng tu năm Thiệu Trì thứ 2 ( 1842) đổi tên thành
Côn Lôn bảo (thành đất Côn Lôn) và đến khi giặc Pháp chiếm Côn Đảo tòa
thành vẫn còn.
Cuối thế kỷ thứ XVII và đầu thế kỷ thứ XVIII, tư bản Anh, Pháp đã bắt
đầu nhòm ngó các nước phương Đông. Nhiều lần các công ty Đông - Ấn
của Anh, Pháp cho người tới Côn Đảo điều tra, dò xét tình hình mọi mặt
với âm mưu xâm lược.
Tháng 11 năm 1686, Công ty Đông - Ấn của Pháp đã phái Vê rê (Véret)
tới điều tra lập cơ sở ở Côn Đảo.
Năm 1687, Uy liêm Đampiê (Williams Dampier) nhân viên Công ty
Đông - ấn của Anh đã tới vẽ bản đồ ở vịnh Tây - Nam Côn Đảo.
Năm 1702, đời chúa Nguyễn Phúc Chu, năm thứ 12, Công ty Đông - Ấn
của Anh ngang nhiên đổ quân lên Côn Đảo xây dựng pháo đài. Giám đốc
Công ty là Len Kếtpôn (Allen Catchpole) đích thân chỉ huy cuộc chiếm
đóng trái phép này. Ông ta đưa một số lính người Macátxa1tới xây dựng
một pháo đài lớn, ký hợp đồng với họ làm trong 3 năm. “Ở Côn Đảo họ bị
đau ốm lo buồn và chỉ muốn về quê nhà. Họ bí mật chuẩn bị một cuộc nổi
dậy. Đêm ngày 3-2-1705, một tiếng hú man rợ vang trong rừng thẳm.
Chính là những người lính hung hãn, da ngăm màu đồng hun đã vùng lên
tiêu diệt ban chủ người Anh (...). Chỉ có rất ít người chạy thoát như bác sĩ
Paodơ (Pould) và ông Xalômdn Lyôt (Salomon Ilyod) đang ở bên ngoài
pháo đài”2.
Nguyên nhân của cuộc nổi dậy này không phải chỉ ở chỗ người Macátxa
không chịu đựng nổi khí hậu và cuộc sống quá thiếu thốn trên đảo, cũng
không phải vì đã hết hạn hợp đồng mà bọn chủ người Anh không làm theo
lời hứa đưa trả họ về quê hương. Các tác giả Đại Nam nhất thống chí cho
biết:
“Đời vua Hiển Tông triều Nguyễn (1691 - 1725) vào năm Nhâm Ngọ
(1702) có thuyền An - Liệt của bọn hải phỉ vào đậu ở đảo Côn Lôn. Tù
trưởng là bọn Tô - Thích, Già - Thi chia người làm 5 ban và đảng lõa hơn
https://thuviensach.vn
200 người, kết lập trại sách, tích trữ của báu như núi và những đồ bánh trái
hào soạn, bốn mặt đều đặt hỏa pháo phòng thủ.
Quam trấn thủ ở biên - trấn là Trương Phúc Phan, mộ 15 người nước Đồ
Bà mật khiến chúng trá hàng. Nhân khi ban đêm phóng lửa đốt cả trại sách
của chúng. Giết được ban nhất, ban nhì, bắt được ban năm, còn ban ba và
ban tư thì trốn thoát ra biển.
Trương Phúc Pham được tin bèn khiến binh thuyền ra đảo, tóm thâu
được cả đồ vàng lụa đem dâng nộp”3.
Lê Quý Đôn đã tra lại sổ ghi kết quả công việc của Thuyên Đức Hầu,
người trực tiếp chỉ huy đội Hoàng Sa những năm đó, từ năm 1702 đến
1709, cung cấp cho chúng ta những con số đáng chú ý :
– Năm Nhâm Ngọ, (1702, năm Len Kếtpun đến chiếm đóng Côn Đảo T.G), đội Hoàng Sa thu 1ượm được 30 thỏi bạc.
– Năm Ất Dậu, (1705, năm có cuộc nổi dậy đánh đuổi người Anh - T.G),
đội Hoàng Sa thu lượm được 126 thỏi bạc.
– Từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ, (1709- 1713), chỉ được mấy cân đồi
mồi và hải sâm, có lần họ chỉ thu lượm được mấy khối thiếc, mấy chiếc bát
đá và 2 khẩu súng đồng”4.
Như vậy cuộc nổi dậy của người Macátxa đêm 3-2-1705 là do chính
quyền nhà Nguyễn tổ chức và chỉ huy nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ xứ Đàng Trong. Kế hoạch diệt bọn hải phỉ An - Liệt được chuẩn bị
chu đáo: chúa Nguyễn khôn khéo cài người vào nội bộ địch, lợi dụng bọn
lính Macátxa đánh thuê đang bất mãn đối với bọn chủ người Anh để gây
nên cuộc binh biến, kết hợp với sự hỗ trợ từ bên ngoài. Sự việc được giải
quyết gọn lẹ , không gây rắc rối trong quan hệ bang giao vì đã có tù binh
trong tay, địch khó lòng chối cãi, trong một thời gian lâu dài về sau tránh
được sự nhòm ngó của một cường quốc hải quân hùng mạnh vào bậc nhất
thời đó .
Năm 1771, cuộc khởi nghĩa to lớn của nông dân Tây Sơn bùng nổ và
phát triển mau lẹ. Từ 1776 trở đi, quân Tây Sơn nhiều lần tấn công vào căn
https://thuviensach.vn
cứ cửa chúa Nguyễn ở Gia Định. Tháng 3 năm 1782, thủy quân của
Nguyễn Ánh bị đại bại ở cứa Cần Giờ. Tháng 6 năm1783, thủy quân Tây
Sơn đánh Phú Quốc. Nguyễn Ánh trốn chạy sang đảo Côn Lôn, đem theo
hơn 100 gia đình thuộc hạ để sau này lập nên ba làng An Hải, An Hội và
Cỏ Ống xây dựng căn cứ, tính kế phục thù. Chiến thuyền Tây Sơn đuổi
theo nhưng sau đó, Nguyễn Ánh chạy thoát về Phú Quốc vì thuyền Tây
Sơn gặp bão.
Sau thất bại này, theo lời khuyên của giám mục Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh
đã chọn con đường cầu viện nước Pháp chống Tây Sơn để giành lại ngôi
báu. Bá Đa Lộc là Khâm sai tòa Thánh ở Gia Định từ 1765, đã giúp
Nguyễn Ánh khi bị Tây Sơn đánh đuổi vào đây, sự gắn bó giữa họ với nhau
đã là nguồn gốc cho việc Pháp can thiệp ngày càng sâu vào Việt Nam.
Tháng 12 năm 1784, Nguyễn Ánh dã giao ấn tín và hoàng tử Cảnh cho Bá
Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Chủ trương phản động này đã bị chính Phi
Yến, người vợ trẻ của Nguyễn Ánh phản đối, nhưng Ánh không nghe và
đày bà lên hòn Côn Lôn Nhỏ cho đến chết. Hòn đảo từ đấy mang tên Hòn
Bà.
Ngày 28-11-1787, thay mặt Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc đã ký Hiệp ước
Vécxai (Versailles) với đại diện vua Pháp là Đờ Mông-môranh (De
Montmorin), theo đó thì Pháp hứa giúp Nguyễn ánh 4 tàu chiến, 1.200 lính,
200 pháo thủ, 250 lính người Phi . Để đổi lại, Nguyễn Ánh nhượng cho
Pháp chủ quyền ở Cửa Hàn (Đà Nẵng), cho Pháp được độc quyền thương
mại ở Nam Kỳ. Quần đảo Côn Lôn cũng bị nhượng cho Pháp (điều 3 và 5,
Hiệp ước Vécxai).
Từ tháng 2 đến hết tháng 12 năm 1787, khâm sứ của giáo hoàng Bá Đa
Lộc đã được yết kiến vua Lui XVI chính tay ông ta đã vạch ra mấy phương
án thực hiện cuộc xâm lược. Với quân số và vũ khí dự kiến, ông ta đã đưa
ra kế hoạch tác chiến đánh thẳng vào Quy Nhơn. Quân lính Pháp dưới sự
yểm trợ bằng hỏa lực pháo binh đặt trên các tàu chiến, sẽ đổ bộ lên Quy
Nhơn, nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh.
https://thuviensach.vn
Cũng chính vị thầy tu này nêu lên số lượng lương thực, thực phẩm, các
dụng cụ cần thiết và cả số thuốc men cần đem theo. Nhưng chế độ quân chủ
chuyên chế Pháp đang khủng hoảng trầm trọng. Cuộc khủng hoảng tài
chính đã trở thành nguyên nhân trực tiếp chủ yếu dẫn đến cuộc Đại cách
mạng Pháp năm 1789, đập tan chế độ phong kiến, đem lại thắng lợi cho
giai cấp tư sản Pháp.
Trong tình hình như vậy, triều đình Pháp không thể thực hiện được
những cam kết, Bá Đa Lộc đã trở về tay không. Bá tước Đờ Môngmoranh
đã gửi những chỉ thị mật cho Cônuây (Conway), người chỉ huy lực lượng
pháp ở Ấn Độ không thực hiện cuộc can thiệp vì tình hình tài chính không
cho phép. Không cam chịu thất bại, vị giám mục có đầu óc thực dân này
ghé qua Pôngđisên vận động một số thương nhân Pháp hùn tiền mộ lính,
mua súng ống giúp Nguyễn Ánh. Tháng 9 năm 1788, tàu Đơriađơ và La
Tron đã chở tới Côn Đảo 1.000 khẩu súng trường và mấy khẩu thần công.
Cần nhắc lại rằng từ khi ký kết Hiệp ước Vé...
 





