Học liệu điện tử

Video - Thí nghiệm thực hành

Thống kê bạn đọc

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    9456fe40364d9167df75ae7b1c785753.jpg Sodotuduytoan9chuong1hinhhoc2.png Maxresdefault_1.jpg

    Liên thông thư viện

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NINH PHONG - NINH BÌNH💕💕

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Khoa học hóa suy nghĩ và làm việc học tập

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Huy Lượng
    Ngày gửi: 17h:37' 01-07-2025
    Dung lượng: 595.3 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Table of Contents
    Lời mở đầu
    Tinh thần khoa học
    Yêu cầu chân lý và dũng cảm trí tuệ
    Trung thực trí tuệ
    Độc lập trí tuệ
    Nghi vấn khoa học
    Tin tưởng khoa học
    Khiêm tốn và rộng lượng
    Tư duy không vụ lợi
    Phong cách khoa học trong lao động
    Tính trật tự
    Tính kế hoạch
    Tập trung chú ý
    Tính liên tục
    Tính khẩn trương
    Phong cách khoa học trong học tập
    Nghe giảng
    Ghi chép
    Tự học
    Thực tập
    Làm bài, viết báo cáo
    Thuyết trình
    Vài đức tính cần thiết cho công tác khoa học
    Óc quan sát
    Trí nhớ nhanh, bền
    Tính tò mò, tìm hiểu
    Trí tưởng tượng phong phú
    Nghị lực kiên trì
    Năng khiếu

    KHOA HỌC HÓA CÁCH SUY NGHĨ, LÀM VIỆC, HỌC TẬP
    Tác giả: Đào Văn Tiến

    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Lời mở đầu
    “Khoa học là linh hồn sự phồn vinh của các quốc gia, là nguồn sống dồi dào của mọi tiến bộ. Chính những phát minh khoa
    học và ứng dụng của nó đã dẫn dắt chúng ta đi.” (Paxtơ)

    Trong quá trình tìm cách giải thích các hiện tượng tự nhiên, trí tuệ loài người đã trải qua ba trạng
    thể thần học, siêu hình và khoa học (Auguste Comte).
    1. Trạng thể thần học giải thích hiện tượng tự nhiên là do quyền lực của thần thánh.
    Thí dụ, trước kia người ta cho rằng lên miền núi bị sốt rét là do một loại (ma thiêng)
    của núi rừng gây ra. Ở miền núi có rất nhiều loại ma gây bệnh. Vì vậy, nếu ốm, chỉ cần
    có thầy mo cũng lễ là khỏi.
    Tất nhiên với cách giải thích này, người ta không thể hiểu được tại sao người bệnh vẫn
    chết, mặc dù có thể hiểu được tại sao người bệnh vẫn chết, mặc dù có cũng lễ.
    2. Trạng thể siêu hình giải thích hiện tượng tự nhiên bằng các lực siêu hình.
    Đã có thời người ta tin rằng bệnh sốt rét là do nước độc gây ra. Lên miền núi, cứ tắm
    nước suối, uống nước suối mãi sẽ bị sốt rét. Do đó bệnh có tên là “sốt rét ngã nước”,
    cách giải thích này ngụ ý là trong nước suối có một “chất”, một “lực” gì đó có thể sinh
    bệnh.
    Với cách giải thích này, người ta cũng đành bó tay trước bệnh sốt rét vì không hiểu biết
    gì về cái “lực siêu hình” kia.
    3. Trạng thể khoa học giải thích hiện tượng này bằng hiện tượng khác.
    Thí dụ, hiện nay người ta biết rằng bệnh sốt rét là do vi trùng Plasmedium xâm nhập cơ
    thể gây ra. Và trùng này lại do muỗi Anopheles truyền cho người.
    Với cách giải thích này, ta có thể phòng sốt rét bằng cách phòng muỗi đốt và chữa sốt
    rét bằng cách uống Quinacin để diệt trùng Plasmodium.
    Khoa học không có mục đích đi tìm nguyên nhân tới cùng của hiện tượng, tức đạt tới chân lí tuyệt
    đối. Nó chỉ tự hạn chế trong việc quan sát các hiện tượng, biện luận về hiện tưởng và tìm mối liên hệ
    không đổi giữa các hiện tượng.
    Mặc dù mục đích của khoa học chỉ khiêm tốn như trên, khối lượng kiến thức do khoa học mang
    cho nhân loại đã có giá trị lí luận và thực tiễn không nhỏ. Chính chúng đã xây dựng nên nền văn minh
    phát triển không ngừng của loài người.
    Khoa học còn tạo cho con người ​ và đây là điều quí nhất- một tư duy khoa học bao gồm tinh thần

    khoa học (còn gọi là trí tuệ khoa học) và phương pháp luận khoa học, trong này có phong cách khoa
    học.
    Tinh thần khoa học và phong cách khoa học được hình thành qua công tác nghiên cứu và chính nhờ
    đó mà các nhà khoa học của bao thế hệ đã và đang đóng góp có kết quả cho sự nghiệp khoa học.
    Nhưng sản phẩm quý báu này của khoa học cũng giúp ích cho mỗi người chúng ta đặt kết quả tốt
    trong lao động và học tập của mình.
    Tập sách gồm 4 chương như sau:

    1.
    2.
    3.
    4.

    Tinh thần khoa học
    Phong cách khoa học trong lao động
    Phong cách khoa học trong học tập
    Vài đức tính cần thiết cho công tác khoa học

    Tác giả hi vọng là các chương 1, 2, 3, sẽ giúp ích cho tất cả các bạn thanh niên đang lao động, học
    tập ở các ngành nghề khác nhau. Riêng chương 4 nhằm giúp thêm bạn nào muốn đi vào con đường
    khoa học.
    Mong các bạn đọc quan tâm góp ý kiến về thiếu sót của tập sách. Tác giả xin thành thực cảm ơn.
    Hà Nội, Xuân Canh Thân 1980.

    Chương 1. Tinh thần khoa học
    “Nếu nghiên cứu khoa học teo đi, đời sống tinh thần của đất nước ngừng trệ và do đó bao khả năng tiến bộ tương lai tan
    thành mây khói”.–ANXTANH

    Khoa học gồm hai bộ phận: kiến thức khoa học và phương pháp khoa học.
    Phương pháp khoa học giúp con người tích luỹ kiến thức khoa học.
    Khối kiến thức này tăng không ngừng qua bao thế hệ nhà khoa học, không chỉ làm giàu vốn trí tuệ
    của con người về các quy luật chi phối hiện tượng tự nhiên mà còn được ứng dụng trong thực tế sản
    xuất và đời sống ngày càng nhiều, nhằm cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của con người.
    Khối kiến thức về lí luận và phương pháp của khoa học cũng làm kết tinh một số đức tính quí báu
    nhất của nhân loại gọi là tinh thần khoa học (hay trí tuệ khoa học), một bộ phận quan trọng của tư duy.
    Tinh thần khoa học thành hình cùng với khoa học qua bao đời nay vẫn giữ nguyên giá trị vì ở thời
    đại nào nó cũng giúp con người tiếp cận chân lí. Nó không những giúp ích cho nhà khoa học trong
    công tác nghiên cứu mà còn cho mọi người hành động có kết quả.
    Từ xưa tới nay, đã thay đổi các chế độ xã hội, các nguyên lý đạo đức, các nguyên lý thẩm mỹ, các
    học thuyết khoa học, nhưng tinh thần khoa học vẫn tồn tại với khoa học, mà khoa học thì còn mãi mãi
    với loài người.
    Châm ngôn Ả Rập đã có câu: Khoa học là do một thiên thần tai ác sáng tạo ra vì không muốn cho
    loài người nghỉ ngơi.
    Chỉ lúc nào mà tinh thần khoa học sút kém, lúc nào mà con người tự mãn với hiểu biết của mình
    không muốn sưu tầm kiến thức nữa, lúc đó là nền văn minh đi tới chỗ suy đồi. Lịch sử nhân loại đã
    chứng minh sự suy tàn của nền văn minh xưa kia sau thời kỳ cực thịnh: cổ Ai Cập, cổ Hi Lạp, cổ La
    Mã, cổ Trung Quốc v.v…
    Sang thời Trung cổ, qua hàng trăm năm, xã hội châu Âu trì trệ vì tinh thần khoa học bị ức chế bởi
    Nhà thờ. Phải đợi tới thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XVIII), tinh thần khoa học được giải phóng mới thúc
    đẩy xã hội tiến nên.
    Ở thời kỳ phong kiến phương Đông, nhiều nước có xã hội ngưng đọng hàng ngàn năm cũng do tinh
    thần khoa học bị kìm hãm bởi giai cấp thống trị và tôn giáo.

    Nhìn chung, ở thời kỳ nào, nơi nào mà khoa học phát triển, tinh thần khoc học phổ biến rộng rãi,
    thì mê tín dị đoan giảm hẳn, xã hội hưng thịnh. Còn ở thời kỳ nào, nơi nào mà tinh thần khoa học sút
    kém, là lúc đó ở nơi đó tôn giáo lộng hành, tà thuyết phát triển, bước tiến của xã hội chậm lại.
    Có thể nói: tinh thần khoa học là tinh thần hồn nền văn minh của nhân loại.
    Theo nhiều nhà triết học và nhà khoa học, tinh thần khoa học gồm các đức tính sau đây:

    1.
    2.
    3.
    4.
    5.
    6.
    7.

    Yêu chân lý và dũng cảm trí tuệ
    Trung thực trí tuệ
    Độc lập trí tuệ
    Nghi vấn khoa học
    Tin tưởng khoa học
    Khiêm tốn và rộng lượng
    Tư duy không vụ lợi

    1. Yêu cầu chân lý và dũng cảm trí tuệ
    “Dù thế nào chăng nữa trái đất vẫn cứ quay”.

    Chân lý là sự thật khách quan, Nhà khoa học là người bằng mọi cách, khám phá ra sự thật khách
    quan trong tự nhiên.
    Nếu không có lòng yêu chân lý, khôn ai có thể vượt khó khăn trở ngại trên con đường hoạt động để
    tới đỉnh cao của chân lý.
    Yêu cầu chân lý đòi hỏi ta một mặt không thiên tư đối với bản thân mình và nhận thức được sai
    lầm của mình, mặt khác khi đã chắc chắn về một sự thật nào đó thì phải bám chắc lấy không buông.
    Không thiên tư đối với bản thân mình là một đòi hỏi khó khăn đối với nhà khoa học.
    Trong quá trình nghiên cứu, nhiều khi có khá nhiều thí nghiệm đã chứng minh ngày càng rõ giả
    thuyết ban đầu, củng cố thêm niềm tin vào sáng tạo của mình.
    Bỗng có một sự kiện có tính chất phủ định xảy ra. Đây là lúc đau đớn nhất của người nghiên cứu,
    lúc thử thách lòng dũng cảm của anh ta. Phải có can đảm xoá bỏ toàn bộ cái cũ, nếu cần, và làm lại từ
    đầu. Vì chân lý, ta không thể nào làm khác.
    Để chuẩn bị cho môn đồ vững vàng thêm trong những lúc thử thách đó, nhà vi trùng học Paxtơ đã
    nói:
    Tin tưởng rằng ta đã tìm thấy một sự kiện khoa học quan trọng, nôn nóng để thông báo mà lại phải tự bó mình hàng ngày,
    hàng tuần, thậm chí hàng năm để đấu tranh bản thân, để cố gắng bác bỏ những thí nghiệm của chính mình, để chỉ công bố
    kết quả phát minh khi ta đã đề xuất hết cả các giả thuyết phủ định, thật quả là công việc gian khổ. Nhưng sau nhiều cố gắng
    đó, người ta đi tới chắc chắn, tới chân lý, ta sẽ thấy một trong những niềm vui lớn nhất con người được hưởng và ý nghĩ
    rằng ta sẽ đóng góp vào sự phồn vinh của đất nước lại làm cho niềm vui đó thêm sâu sắc.

    Nhà vật lý học Anxtanh cũng có lời khuyên học trò của mình: Với công việc của chúng ta, cần phải
    có hai điều kiện, một là cần phải có một đức tính kiên nhẫn không bao giờ giảm sút và hai là cần phải
    luôn luôn sẵn sàng (đổ xuống biển) cái mà chúng ta phải bỏ phí bao nhiêu thời gian và lao động.
    Chân lý bao giờ cũng đi trước thời đại và mâu thuẫn với tri thức của thời đại.
    Lịch sử khoa học đã chứng tỏ tất cả những phát minh khoa học đều gặp phải sức phản kháng đôi

    khi rất gay gắt của dư luận đương thời.
    Nhưng nhà khoa học phải có đầy đủ tinh thần dũng cảm để đấu tranh với những tiên kiến lạc hậu
    đó. Họ không lùi bước trước những kết luận cực đoan và dám nói ra một cách thành thực, minh bạch
    quan điểm riêng mà mình tin là gần chân lý, không hề sợ hậu quả.
    Các nhà khoa học chân chính đều để chân lý lên trên tất cả.
    Là một giáo sĩ, anh thanh niên Brunô tình cờ gặp được một quyển sách (Bàn về sự chuyển vận của
    thiên thể) của Côpécních, nói về trái đất xoay quanh mặt trời. Đêm đêm, anh nhìn lên bầu trời quan sát
    các ngôi sao và suy nghĩ về những thế giới xa xăm, vô tận. Anh giác ngộ về học thuyết Côpécních, rời
    bỏ nhà thờ, đi tuyên truyền cho học thuyết này, bất chấp sự đe doạ của giáo hội lúc đó đang ủng hộ
    thuyết điạ tâm (mặt trời xoay quanh trái đất) của Kinh Thánh.
    Brunô đã phát triển một cách sáng tạo thuyết Côpécních, sớm khẳng định rằng mặt trời chỉ là một
    trong vô số ngôi sao và trái đất chỉ là một trong nhiều hành tinh trong vũ trụ. Do sự phản bội của người
    quen, Brunô bị bắt. Nhà thờ tra tấn, dụ dỗ, mong anh từ bỏ thế giới quan của Côpécních nhưng không
    làm lay chuyển được lòng tin vào chân lý khoa học của anh. Sau 7 năm giam cầm, toà án nhà thờ tuyên
    án thiêu sống anh. Đừng trong đám nửa, Brunô vẫn cất cao giọng: Thiêu chết cũng không thể phủ định.
    Hậu thế sẽ đánh giá ta.
    Từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, quan niệm về không gian, thời gian và khối lượng vật
    chất không biến đổi của Niutơn đã chi phối toàn bộ vật lý học cổ điển hàng trăm năm.
    Tới đầu thế kỷ XX, kho Anxtanh đưa dần những luận điểm của mình về tương đối luận, không gian,
    thời gian và khối lượng cũng biến đổi, ông đã vấp phải sự chống đối gay gắt của lực lượng khoa học
    đương thời. Số người hiểu được lý thuyết tương đối chỉ đếm trên đầu ngón tay.
    Ông phải đương đầu với Liên đoàn chống Anxtanh gồm một số nhà khoa học, trong này có cả giải
    thưởng Nôben. Họ tổ chức những cuộc hội thảo công khai để tranh luận về lý thuyết tương đối, để
    công kích Anxtanh về mặt chính trị, coi tương đối luận như biểu hiện của tinh thần bônsêvich trong vật
    lý học. để vu cáo Anxtanh là ăn cắp tài liệu người khác, là đưa ra một công trình vô nghĩa, là có hành
    động tuyên truyền cá nhân.
    Ngoài ra còn có những báo đăng bình luận, thơ ca công kích Anxtanh và công trình của ông.
    Nhưng Anxtanh hoàn toàn tin tưởng vào chân lý mình nắm trong tay.

    Trước những tấn công đó, ông rất bình tĩnh và nói với một người bạn: Tôi có cảm giác của một
    người nằm trên một cái giường rất tốt nhưng thỉnh thoảng lai bị rệp cắn.
    Rõ ràng nghiên cưu khoa học cũng đòi hỏi lòng dũng cảm của người chiến sỹ trên mặt trân. Chiến
    đấu chống điều ác và sự bất công, chiến đấu chống điều ác và sự bất công, chiến đấu chống lại các thế
    lực đen tối của thiên nhiên để đem lại sự sáng sủa cho đời sống con người đều cần tới tinh thần dũng
    cảm.
    Trong mọi lao động, đều có những khó khăn phải vượt. Tìm hiểu những nguyên nhân của khó khăn,
    suy nghĩ cách vượt khó để tới giải pháp, không khác gì đi tìm chân lý của sự vật.
    Muốn tới chân lý đó, cũng như các nhà khoa học phải dũng cảm đấu tranh với nề nếp suy nghĩ làm
    ăn theo lối cũ của bản thân và của hoàn cảnh.
    Đúng như lời nói của một nhà triết học: Nếu lý trí và tâm hồn của người nào còn lành mạnh thì quả
    tim người đó phải rung động trước chân lý.
    Một đặc điểm của con người có tư cách là phải tỏ lòng dũng cảm ở chỗ giữ vững vị trí còn hi vọng
    trong khi xung quanh mình người ta đã thôi chỉ bỏ rơi.
    Dũng cảm trí tuệ thể hiện ở chỗ ham suy nghĩ về các vấn đề, suy nghĩ về nguyên nhân và hậu quả
    của hiện tượng, là không bằng lòng với sự hiểu biết phiến diện mà thích đi sâu vào sự kiện để nắm bản
    chất của nó.
    Từ ngàn xưa người ta đã nuôi ong, đã biết tổ chức xã hội của ong, biết nhiệm vụ và hoạt động của
    từng loại ong.
    Nhưng chỉ có giáo sư Frich năm 1930 mới tìm hiểu tỉ mỉ hoạt động của từng loài ong trong đàn, do
    đó đã phát hiện ra hiện tượng (múa) của ong thợ để thông tin cho đồng bọn biết vị trí chính xác của địa
    điểm lấy thức ăn. Từ phát minh này, đã dần dần thành hình các nghành khoa học mới đang phát triển
    mạnh như tập tính học, thông tin sinh học… bắt đầu có nhiều ứng dụng trong các ngành thông tin liên
    lạc, khai thác động vật có ích, phòng ngừa động vật có hại… Vừa đây năm 1973, ông được giải
    thưởng Noben về phát minh trong lúc đang nghỉ hưu.
    Nhà kí sinh trùng học Đặng Văn Ngữ, muốn thử nghiệm hiệu quả của Vacxin phòng sốt rét do ông
    sáng chế, đã không ngại nguy hiểm tự thân đến thực địa chiến trường để tiến hành thí nghiệm và ông đã

    hy sinh trong thời gian chiến tranh giải phóng vừa qua. Là một nhà khoa học chân chính, ông muốn đích
    thân kiểm nghiệm giả thiết của mình, bất chấp nguy hiểm.
    Có dũng cảm trí tuệ là không cam tâm chịu dốt nát, là cố gằng vượt mọi khó khăn vật chất và tinh
    thần để học tập.
    Thiên nhiên không dễ dàng lộ bí ẩn cho con người. Phải trầy trật gian khổ mới có thể biết phần nào
    về nó. Mỗi kiến thức khoa học thu được đều phải đổi bằng mồ hôi có khi bằng cả máu của các nhà bác
    học.
    Xã hội loài người tiến nên không ngừng là nhờ tích luỹ ngày càng nhiều kiến thức của mỗi thế hệ.
    Trẻ em hiện thông minh hơn, biết nhiều hơn người lớn trước kia, chính là do sự tích luỹ không ngừng
    kiến thức của nhân loại.
    Câu nói của Lênin hồi đầu thế kỷ “Học, học nữa, học mãi” có tính chất tiên tri. Cuộc cách mạng
    khoa học và kỹ thuật ngày nay với tốc độ phát triển vũ bão của nó đang buộc mỗi người lao động trên
    trái đất, để thích nghi với hoàn cảnh hiện tại, phải học tập cả đời.
    Người ta kể rất nhiều gương cầu học của ông cha ta. Có người không có tiền mua dầu thắp phải bắt
    đom đóm bỏ vào vỏ trứng để đọc sách ban đêm. Có người quét lá đa ở chùa để đốt lấy ánh sáng (tiến
    sỹ Châu Trí). Có người không có tiền mua giấy bút phải đến dựa cổng trường, khi đi chăn lợn, để nghe
    và nhẩm thuộc bài giảng của thầy giáo (tiến sỹ Thừa Cung).
    Sử có kể tiến sỹ Lương Thế Vinh thời Lê Thành Tông, sau khi cáo quan về nghỉ ở quê nhà, thấy
    việc đo đạc ruộng đất chính xác là một yêu cầu cấp bách, tuy bấy giờ đã hơn 60 tuổi, vẫn quyết tâm
    lao vào nghiên cứu toán học. Và một năm sau, ông viết xong công trình “Đại thành toàn pháp” nói về
    cách tính của các hình học phẳng, và sau hai năm, sáng chế ra chiếc bàn tính giúp việc tính toán diện
    tích, sản lượng nhanh chóng. Nhân dân gọi ông là Trạch Lường (tiến sỹ về đo đạc).
    Về tinh thần cầu học, còn có thể lấy Mác làm thí dụ. Mác đọc được phần lớn tiếng các nước châu
    Âu, viết được tiếng Đức, Pháp và Anh. Nhưng tới khi hơn 50 tuổi, vì muốn đọc tác phẩm Nga nguyên
    bản, Mác đã giành 6 tháng kiên trì học Nga văn và sau đó đã đọc thông thạo các tác phẩm của Pútkin,
    Gôgôn, Tsêdrin…
    Dũng cảm trí tuệ còn là bảo vệ đến cùng mục đích nhân đạo của khoa học. Khoa học thành hình
    với sự tiến hoá của nhân loại, cũng chỉ có mục đích thoả mãn yêu cầu về trí tuệ và vât chất của con
    người. Nhà khoa học dũng cảm là người phản đối việc sử dụng thành tựu của khoa học vào mục đích

    phá hoại hạnh phúc của nhân loại, trái với lý tưởng cao cả của khoa học.
    Ông tổ của điều khiển học, N.Uynne, giám đốc một viện nghiên cứu ở Mỹ, khi được tin Mỹ dùng
    điều khiển học trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đã tuyên bố sẽ không tiếp tục nghiên cứu
    theo hướng này vì phát minh khoa học của ông đã bị sử dụng cho ý đồ đen tối, vô nhân đạo.
    Nhà toán học kiêm triết học Bectơrăng Rơtsen đã thành lập toà án quốc tế để nên án tội ác của
    chính phủ Mỹ ở Việt Nam, cũng là thí dụ điển hình về lòng yêu chân lý, dũng cảm trí tuệ của một nhà
    bác học chân chính.
    Ngại khó khăn gian khổ trong lao động, không ham thích học hỏi thêm, lười suy nghĩ, không phân
    phải trái ở bản thân và ở người khác để có lời nói và hành động thích đáng, dựa dẫm vào ý kiến người
    khác, hành động không phải theo ý nghĩ của mình mà theo ý nghĩ của người. Đây là các biểu hiện ở
    mức độ khác nhau của một trí tuệ thấp kém. Các thái độ này đều xa lạ với người lao động chân chính
    mà lại càng xa lạ với nhà khoa học.
    Trí tuệ là kết quả hoạt động của bộ não. Lười trí tuệ sẽ dẫn tới sự ngừng hoạt động của cơ quan
    này tức sự “teo não”. Đây là hiện tượng nguy hiểm cho sự phát triển của con người và sự tiến bộ của
    xã hội, khẳ năng trí tuệ và bản năng xã hội là hai nhân tố quan trọng bảo đảm sự sinh tồn và phát triển
    của nhân loại.
    Phải quan tâm bồi dưỡng lòng yêu chân lý và dũng cảm trí tuệ lúc còn ở nhà trường.
    Thầy giáo phải tìm mọi biện pháp gây lòng ham muốn học tập, sưu tầm kiến thức mới của học sinh,
    phải rèn luyện cho học sinh thói quen nghiên cứu cá nhân, suy nghĩ độc lập, tự mình phát hiện lấy kiến
    thức mới.
    Sinh hoạt đội thiếu niên và đoàn thanh niên phải bảo đảm tự do suy nghĩ thực sự, làm sao để có uy
    quyền độc nhất trong buổi họp không phải là cá nhân nay hay cá nhân kia mà là lẽ phải, chân lý.
    Chỉ có bằng cách đó, người thanh niên mới có được lòng yêu chân lý và dũng cảm trí tuệ khi bước
    vào đời.

    2. Trung thực trí tuệ
    “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”.

    Nghiên cứu khoa học là đi tìm chân lý, tìm sự thật. Vì thế người nghiên cứu trên con đường chân
    lý phải hết sức tránh sai lầm. Càng tránh được sai lầm, càng tránh được thời gian mất đi do đường
    vòng, càng đỡ tốn sức lực để đi tới chân lý.
    Sai lầm có một nguyên nhân là dốt nát, nhưng dốt nát không phải là nguyên nhân độc nhất của sai
    lầm. Người ta sẽ không sai lầm khi người ta không biết và thú nhận sự không biết này và không chịu
    khẳng định.
    Có sai lầm là không biết mà cứ khẳng định như đã biết, là thực tình không biết mà tưởng rằng biết.
    Sai lầm bắt nguồn từ sự dốt nát mà không biết là mình dốt.
    Muốn tránh sai lầm phải lao động thật lực để giảm sự dốt nát của bản thân và phải rèn luyện trung
    thực trí tuệ.
    Trung thực trí tuệ trước hết là không gian dối trong công tác khoa học. Điều này thường hay xẩy ra
    đối với các người nghiên cứu hám danh lợi, sốt ruột vì thành tích. Họ không rõ là sự thiếu trung thực
    trí tuệ thường dẫn tới thất bại ngay trên đoạn đường khoa học đầu tiên.
    Vào cuối tháng 4-1974, báo chí hàng tuần ở Mỹ xôn xao về sự kiện Summéclin mà người ta gọi là
    vụ “Oatơghết khoa học”.
    Sau khi được thông báo là tiến sỹ Summéclin, một nhà giải phẫu học trẻ tuổi, đã thành công trong
    việc ghép da động vật khác dòng, một việc chưa ai làm được từ trước tới giời – vì một ròng động vật
    thuần chủng rất khó tiếp nhận mảnh da ghép của dòng khác – một viện nghiên cứu sinh học ở Nữu ước
    mới anh đến làm ở viện, tiếp tục công việc đó. Nhưng lần này, rất nhiều thí nghiệm không có hiệu quả.
    Một tiểu ban kiểm tra của viện được thành lập để tìm nguyên nhân của sự thành công trước kia và sự
    thất bại hiện tại. Summéclin hốt hoảng – có lẽ anh ta đã báo cáo “láo” về kết quả thí nghiệm trước đây
    – rình lúc ban đêm, quét thuốc nhuộm nên chuột thí nghiệm với hy vọng cứu vãn tình thế. Nhưng việc
    gian lận bị phát hiện và nhà khoa học thiếu trung thực này đã buộc phải thôi việc. Chắc chắn anh ta sẽ
    phải giấu tên, đổi chỗ ở và làm nghề khác.

    Trung thực trí tuệ là không để ý đồ cá nhân xuyên tạc sự kiện khoa học.
    Điều này thấy ở đôi nhà nghiên cứu đã có đóng góp cho khoa học nhưng chủ quan tự mãn, không
    tôn trọng đúng mức sự kiện khoa học.
    Người ta kể chuyện: Có nhà khoa học làm thí nghiệm về kích thích tố tăng lượng sữa bò. Khi nào
    cộng tác viên báo cáo về lượng sữa của bò thí nghiệm tăng so với bò đối chứng, ông rất vui. Còn nếu
    được nghe báo cáo về lượng sữa không tăng hoặc không giảm đi thì ông cáu gắt, nghi ngờ thao tác đo
    lường, nghi ngờ sự chăm sóc ăn uống của người giúp việc. Sau vài lần, anh này rút kinh nghiệm, muốn
    yêu thân, toàn báo cáo về bò thí nghiệm cho nhiều sữa hơn bò đối chứng.
    Cuộc thực nghiệm khoa học đã phá sản từ đầu do tình thiếu chung thực của cả hai thầy trò, sự kiện
    khoa học đã không được tôn trọng.
    Hiện nay không ít người quản lý khoa học cũng giống như nhà nghiên cứu nói trên, muốn nghe báo
    cáo phù hợp với định kiến có sẵn của mình, đã tạo một số môn đồ báo cáo sai, đi tới nhận định sai
    lầm về thực tế.
    Nếu nhà quản lý này lại dùng biện pháp quyền uy hoặc biện pháp hành chính để hạn chế tư do
    trong thảo luận, thì tai hại gây ra cho sự nghiệp khoa học càng lớn, sai lầm sẽ kéo dài và hường công
    việc triển khai chệch đường.
    Trung thực trí tuệ là không bao giời phát triển hàm hồ không dựa trên sự kiện.
    Nghiên cứu khoa học thực chất là phát triển sự kiện rồi tìm mối liên hệ giữa các sự kiện. Và thảo
    luận khoa học thực chất cũng là thảo luận trên sự kiện.
    Tinh thần khoa học chủ yếu coi sự kiện như nguồn gốc, qui tắc, biện pháp kiểm tra mọi kiến thức.
    Nhà khoa học chân chính là người rất coi trọng sự kiện.
    Coi trọng sự kiện khoa học là coi trọng mọi tư liệu khoa học dù nhỏ đã có trong lĩnh vực nghiên
    cứu.
    Khi viết bộ Tư bản, Mác đã trích dẫn xuất xứ của rất nhiều tư liệu tham khảo một cách đầy đủ, tỉ
    mỉ. Có người nhận xét rằng công việc đó có thể hiện tính quá ư thận trọng không? Mác trả lời, đại ý,
    người nghiên cứu phải có xứ mệnh giúp cho lịch sử đánh giá đúng đắn sự đóng góp dù nhỏ nhất của
    mọi người cho khoa học.

    Trung thực trí tuệ là có tinh thần trách nhiệm cá nhân về công việc của mình và đánh giá đùng đắn
    sự đóng góp của những người khác.
    Kiển tra lại mọi sự kiện, mọi số liệu là một đặc điểm của Lênin. Khi làm tờ báo Tia Lửa, Lênin đã
    tự mình sửa chữa lấy bản in thử của cả tờ báo, không phải vì thiếu người chữa mà vì lo lắng, không
    muốn để sót một lỗi nào.
    Trong báo cáo khoa học, tác giả trung thực phải nêu rõ ràng sự đóng góp của từng người cho công
    trình: người gợi ý đề tái, người giúp đỡ kỹ thuật, người giúp đỡ phương tiện, người giúp đọc bản thảo,
    v.v… để người đọc có thể hình dung được trách nhiệm cá nhân của tác giả trong công trình.
    Trung thực trí tuệ là công khai nhận cái đúng của đồng nghiệp và cái sai của mình.
    Hồi cuối thế kỷ XIX, tại một hội nghị sinh học, nhà sinh lý học Pôn Be thông báo về nguyên nhân
    chết của một số động vật thí nghiệm về bệnh than là do siêu vi khuẩn.
    Nhưng sau khi nhà vi trùng học Paxtơ làm thí nghiệm xác minh tác nhân làm chết là một thứ phẩy
    khuẩn, Pôn Be đề nghị Paxtơ làm lai thí nghiệm trước mặt ông.
    Sau đó, tại hội nghị sinh học lần sau, Pôn Be đã công khai nhận sai lầm của mình.
    Gần đây, nhà khoa học Sêmiônốp, một giả thưởng Nôben, có lần đang trình bầy một báo cáo khoa
    học thì một thanh niên đứng lên phát biểu ý kiến cho rằng chứng minh của ông là sai. Lúc đó, vài nhà
    khoa học vội gạt ý kiến của anh thanh niên. Nhưng Sêmiônốp đã bình tĩnh mời anh lên bảng chứng
    minh. Cuối cùng, ông công nhận sự chứng minh này hoàn toàn đúng.
    Nhà khoa học, theo lời ông, phải luôn nhớ rằng cả cấp bậc, tuổi tác lẫn công lao trong khoa học
    không có ý nghĩa gì trong giao tiếp khoa học với học trò của mình, dù người đó con trẻ tuổi bao nhiêu
    đi nữa. Dưới ánh sáng của ngọn đuốc chân lý, chỉ có sự kiện khoa học là quan trọng mà thôi.
    Trung thực trí tuệ là không giấu dốt.
    Dốt không phải là điều xấu và càng học càng thấy mình dốt là lẽ đương nhiên.
    Khi khoa học mới thành hình, các nhà triết học cổ Hi Lạp, cổ La Mã… có thể thâu tóm tất cả kiến
    thức loài người đã có lúc bấy giờ.

    Nhưng hiện nay với sự phát triển và phân hoá nhanh chóng của các nghành khoa học, không nhà
    bác học nào có thể tự cho mình biết hết. Nếu ta giỏi trong lĩnh vực này đương nhiên phải dốt trong lĩnh
    vực khác.
    Và ngay trong lĩnh vực của mình nếu không tiếp tục nghiên cứu thì trong thời gian ngắn cũng sẽ lạc
    hậu với thời sự trong ngành.
    Vì vậy, nhà khoa học chân chính nào cũng phải đánh giá đúng đắn vộn hiểu biết của mình để học
    hỏi thêm.
    Sách gối đầu giường của Lênin là những tác phẩm của Mác và Enghen. Khi giải quyết những vấn
    đề quan trọng phức tạp, Lênin thường nói với người xung quanh: Phải bàn bạc với Mác cái đã.
    Nhà khoa học chân chính luôn luôn tìm hiểu, không lưu ý tới người khác đánh giá sự hiểu biết của
    mình. Chỉ có nhà khoc học giả hiệu mới không lo lắng xem mình tìm hiểu được gì mà chỉ lo người
    khác đánh giá sự hiểu biết của mình (S.Bớtlơ).
    Hiện nay, không thiếu hiện tượng không trung thực trong giới khoa học.
    Khi tiến hành một đề tái khoa học, còn tình trạng không đi sưu tầm hết các tư liệu có liên quan, và
    trong báo cáo khoa học, không nêu đầy đủ xuất xứ của tư liệu. Thậm chí trong báo cáo, quên nhắc cả
    những người đi trước, đã gợi ý cho mình đề tài, đã đọc trước bản thảo và cho ý kiến sửa chữa. Có
    trường hợp, tệ hại hơn, là chép tư liệu của người khác (chưa công bố) rồi vội vàng công bố làm tư liệu
    của mình.
    Ngoài ra, không ít người nhận định về sự việc, con người dựa trên cảm tính chủ quan, đi tới chỗ
    “yêu nên tôt, ghét nên sấu” nên nhận định sai lầm.
    Và không ít người còn giấu dốt, không biết cứ làm ra vẻ mình biết …
    Một số người khi biết mình sai cũng không giám công khai nhận sai lầm.
    Các thái độ trên hoàn toàn xa lạ với tinh thần khoa học. Ông cha ta đã có lời khuyên rất hay về tính
    trung thực này: “Nói có sách, mách có chứng”, “Biết thì thưa thớt, không biết thì dựa cột mà nghe”.
    Muốn rèn luyện tính trung thực trí tuệ thì phải xoá bỏ tính tự cao tự đại, phải có tinh thần tự phê
    bình nghiêm khắc, phải tập thói quen phân biệt điều ta biết một cách một cách chắc chắn tuyệt đối,
    điều ta biết một cách tương đối, điều ta tưởng biết, điều ta cho là có thể đúng, điều ta cho là có khả

    năng đúng, điều ta tin và tại sao ta lại tin…

    3. Độc lập trí tuệ
    “Không quy phục bất cứ uy quyền nào là châm ngôn cơ bản của phương pháp thực nghiệm”.
    Độc lập trí tuệ (hay tư duy tự do) là một yếu tố quan trọng của tinh thần khoa học. Có độc lập trí
    tuệ, mới có hi vọng đi tới phát minh lớn trong khoa học.
    Có nhà khoa học đã nói: Lòng dũng cảm và tính độc lập của tư duy, khả năng kỳ diệu của trí
    tưởng tượng là những tính chất này mới cho phép con người nhìn trước được đúng.
    Lịch sử khoa học đã cho thấy, ai dám từ bỏ con đường mòn của những khái niệm quá quên thuộc
    mà khai phá những nơi còn chưa có đường thì mới có hy vọng tìm được những điều mới lạ cho khoa
    học.
    Muốn có phát minh khoa học, phải giải phóng trí tuệ khỏi những ức chế của nó.
    Nhà hóc học Sêmiônốp đã khẳng định: Toàn bộ kinh nghiệm lao động trong khoa học của tôi, toàn
    bộ cuộc đời của tôi cho phép khẳng định rằng, điều cốt yếu trong giáo dục các nhà khoa học trẻ tuổi là
    phát triển có hệ thống đầu óc sáng tạo và tính độc lập trong suy nghĩ của họ.
    Độc lập trí tuệ là không ỷ lại vào ý kiến đã có sẵn. Người nghiên cứu phải có khẳ năng xem xét lai
    một ý kiến đã được đa số kết luận, không dựa vào những uy tín nào đó đã được công nhận để xem xét
    vấn đề.
    Người nghiên cứu phải được tự do suy nghĩ về vấn đề nghiên cứu, về phương pháp tiến hành, về
    kết luận thu được, không bị ảnh hưởng bởi mọi kiến thức sẵn có.
    Thực tế đã chứng minh là một chế độ tự do suy nghĩ thích đáng sẽ thuận lợi cho tính sáng tạo trong
    khoa học.
    Nhiều viện nghiên cứu của công ty công nghiệp phương Tây, chuyên dùng một số nhà khoa học
    chuyên suy nghĩ, được tự do sáng tạo một cách tuyệt đối. Một số phát minh xuất sắc ra đời từ hình thức
    quản lý này.
    Một ngày nào đó, ông phó giám đốc của công ty sản xuất đồ điện Generel Electric ở Mỹ tuyển cho
    phòng nghiên cứu của công ty, một kỹ sư trẻ 20 tuổi tên là Langmuya. Ông không giao việc cụ thể cho

    anh ta mà chỉ nói anh ta tham quan nhà máy và tự chọn lấy việc nghiên cứu tuỳ thích. Langmuya chon
    việc nghiên cứu tác dụng của vật cháy sáng trong không khí, một đề tài thoạt nghe rất có vẻ lý thuyết.
    Nhưng chính đề tài này đã dẫn anh phát minh ra bóng đèn điện hiện đang thông dụng. Công ty Genral
    Electric nhờ đó đã kiếm lời hàng tỷ đô – la, còn kỹ sư Langmuya cũng nhờ đó mà được giải thưởng
    Nôben.
    Độc lập trí tuệ là không tin vào giáo lý, ỷ lại vào sách vở.
    Thời trung cổ chân Âu, sách khoa học của các triết gia được coi như Kinh Thánh ta chỉ có việc
    học thuộc rồi truyền bá lại. Sách của Arixtốt được sùng bái như chân lý khoa học.
    Thời phong kiến châu Á, khi nho giáo còn thịnh, sách viết của Khổng tử và môn đồ là kim chỉ nam
    cho hành động của mọi người.
    “Khổng tử viết” là câu nói hay câu viết mở đầu của các sỹ phu.
    Điều này cũng dễ hiểu vì ở thời kỳ đó, khoa học bị kìm hãm không thể phát triển. Người ta thường
    gọi đây là thời tăm tối trong lịch sử khoa học.
    Sách cũ có viết là trong lịch sử y học, Galien là nhà học phiệt trong suốt 15 thế kỷ.
    Công trình về giải phẫu học của ông, coi như Kinh Thánh của ngành y, dạy rằng: Gan người gồm 5
    thuỷ, xương mỏ ác có 7 đốt và đàn ông kém đàn bà 1 xương sườn.
    Nguyên nhân là sách viết dựa theo lời dạy của Kinh Thánh: Thượng đế đã rút 1 xương sườn của
    Ađam, người đàn ông đầu tiên trên trái đất, để nặn lên Eva, người đàn bà đầu tiên. Và y học chính
    thống thời Trung cổ khẳng định là đàn ông nhất thiết phải kém đàn bà 1 xương sườn.
    Nhưng anh sinh viên y khoa Vêsali lại nghi vấn điều này. Sau khi đã kiên trì kiểm nghiệm trên xác
    chết, đếm các thuỳ của gan, sườn của lồng ngực, anh đã phát hiện các điểm sai lầm trên.
    Năm 23 tuổi, anh ta được bổ làm giáo sư phẫu thuật và giả phẫu học. Tới năm 29 tuổi, anh ta đã
    phát hiện được hơn 200 điểm sai lầm trong sách của Galien.
    Sách giải phẫu học được anh ta viết lại khi anh ta mới 27 tuổi và nhiều kiến thức trong đó còn giữ
    giá trị tới bây giờ.
    Độc lập trí tuệ còn là hay đặt lại vấn đề trước một sự kiện đã được đa số công nhận.

    Trước kia, khi thấy mặt trời mọc phía Đông và lặn phía Tây, con người bình thường đặt câu hỏi “
    Tại sao như vậy?” và đã tìm được câu trả lời “tại mặt trời xoay quanh trái đất”, nhất là câu trả lời này
    có sẵn trong Kinh Thánh.
    Lời đáp này đã thuyết phục được đông đảo quần chúng trong hàng thế kỷ. N...
     
    Gửi ý kiến