Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Hồ Quý Ly nhân vật lỗi lạc nhất thời đại

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Huy Lượng
Ngày gửi: 16h:43' 01-07-2025
Dung lượng: 802.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Huy Lượng
Ngày gửi: 16h:43' 01-07-2025
Dung lượng: 802.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Tên sách : HỒ QUÍ LY
NHÂN VẬT LỖI LẠC NHẤT THỜI ĐẠI
TỪ ĐÔNG SANG TÂY
Tác giả xuất bản : QUỐC ẤN
Tổng phát hành : NXB NAM CƯỜNG
Năm xuất bản : 1974
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : white-eyes, conmeohoang, kayuya,
Lucabarazi, xiangjiao, Võ Kim Như, Nhok_kira, puzdao,
nquocan, dacxeru, VinhPhuc.Vo, huonggiang, mphuongth,
kenk25, Martian_K, Akira Thanh, proofread
Kiểm tra chính tả : Lã Phương Thúy,
Phạm Thị Hồng Khánh, Võ Thành Phú, Đinh Thanh Sơn,
Trương Thu Trang, Nguyễn Mỹ Quỳnh Dao
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 24/06/2018
https://thuviensach.vn
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA I000
QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE4U.ORG
Cảm ơn tác giả QUỐC ẤN và nhà phát hành NAM CƯỜNG đã chia sẻ
với bạn đọc những kiến thức quý giá.
https://thuviensach.vn
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT : XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI TRẦN MẠT
I. MỘT BỔN PHẬN CỦA HẬU THẾ
2. MỘT ĐẲNG CẤP LÃNH ĐẠO BẤT XỨNG
3. NHỮNG ÔNG VUA CUỐI TRIỀU
4. KHI ÔNG HOÀNG MÊ ĐÀO HÁT BỘI
5. ĐỐI NGOẠI
GIAO THIỆP VỚI TRUNG HOA
GIAO THIỆP VỚI CHIÊM THÀNH
6. TÌNH CẢNH KHỐN ĐỐN CỦA NHÂN DÂN
PHẦN THỨ HAI : THÀNH KIẾN NHÂN DÂN VÀ Ý CHÍ CÁCH
MẠNG CỦA HỌ HỒ
I. CẢM NGHĨ CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG THỜI VỚI HỌ HỒ VÀ
SỬ QUAN CỦA HẬU THẾ
2. MỤC ĐÍCH BIỆN CHÍNH CHO THỦ ĐOẠN
3. NHỮNG LÝ DO THÚC ĐẨY VIỆC CƯỚP CHÍNH QUYỀN
4. HAI LỰC LƯỢNG PHẢN ĐỘNG
PHẦN THỨ BA : NHỮNG CÔNG CUỘC CÁCH MẠNG QUỐC GIA
I. NGUỒN GỐC VÀ HOẠN LỘ
NGUỒN GỐC
BƯỚC HOẠN LỘ
2. CẢI CÁCH HÀNH CHÁNH
3. CẢI CÁCH QUÂN SỰ
4. CẢI CÁCH KINH TẾ TÀI CHÁNH ĐIỀN ĐỊA
KINH TẾ TÀI CHÁNH
https://thuviensach.vn
ĐIỀN ĐỊA
5. CẢI CÁCH XÃ HỘI
6. CẢI CÁCH VĂN HÓA GIÁO DỤC
PHẦN THỨ TƯ : NHỮNG NGÀY TÀN CỦA TRIỀU HỒ
I. CHUẨN BỊ CHỐNG XÂM LĂNG
2. TÂM LÝ CHIẾN
3. THIÊN TÀI THẤT THẾ
https://thuviensach.vn
QUỐC ẤN
HỒ QUÍ LY
Nhân vật lỗi lạc nhất thời đại
từ Đông sang Tây
Khảo Luận
Tác giả xuất bản – Nam Cường tổng phát hành
https://thuviensach.vn
PHẦN THỨ NHẤT : XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI
TRẦN MẠT
I. MỘT BỔN PHẬN CỦA HẬU THẾ
Suốt lịch sử Việt Nam, một nhân vật lỗi lạc nhứt trong thời đại của
người từ Đông sang Tây lại bị hậu thế đối xử thật bất công, đó là HỒ QUÍ
LY.
Nói đến HỒ QUÍ LY, đại đa số người Việt Nam đã đọc qua lịch sử
nước nhà, đều nghĩ ngay đến một kẻ soán nghịch, một gian thần cướp ngôi
nhà Trần.
Nền luân lý Khổng Mạnh, vị thần giữ nhà của chế độ quân chủ, đã đầu
độc dân ta hằng bao nhiêu thế kỷ, dạy người dân thần thánh hóa vua chúa,
trung quân một cách mù quáng, và từ đó nảy sanh thành kiến trọng chính
thống, thẳng tay kết án tất cả những ai nắm quyền bằng một đường lối khác
hơn là truyền tử lưu tôn trong một triều đại đã có sẳn, dầu những ông vua
cuối triều – con cháu của một đấng anh hùng dân tộc hoặc của một kẻ đoạt
ngôi cũng thế – đã bị hủ hóa, trở thành những cá nhân vô giá trị, gian dâm
vô đạo, ngu xuẩn hay tàn bạo, hại dân hại nước. Một LÊ CHIÊU THỐNG
dắt voi về dầy mồ, suýt dâng tổ quốc cho quân Thanh xâm lăng chà đạp nếu
không có một chiến lược gia thần tốc, một NẢ PHÁ LUÂN Việt Nam – một
NẢ PHÁ LUÂN bất bại – đứng lên đánh đuổi bọn ngoại xâm tham tàn trong
vài trận đánh chớp nhoáng sáng chói vào bực nhứt lịch sử, thì một ông vua
tâm địa nhỏ nhen hèn hạ, ông vua đầy tội lỗi với dân tộc như vậy, vẫn được
đẳng cấp sĩ phu đương thời, trong đó có những nhà đại trí thức, triệt để trung
thành, sẳn lòng chết cho cá nhân tồi tệ ấy. Cả một đám di thần, thà chịu mai
một tài danh, tức là hủy bỏ, phá hoại một phần quan trọng của nguồn tài
nguyên quốc gia là nhân lực – hơn là mang tài sức phụng sự đất nước dưới
một triệu đại khác xứng đáng hơn. Một đại thi hào như NGUYỄN DU, vẫn
mang cái mặc cảm di thần nhà Lê nghĩa là trung với ông vua phản quốc kia
– cho đến chết.
https://thuviensach.vn
Chính cái tinh thần hẹp hòi trọng chính thống của đẳng cấp nho sĩ thời
Trần Mạt – cũng là giai cấp thống trị trong xã hội Việt Nam thời ấy – trong
một thời đại mà trình độ trưởng thành chính trị của quần chúng quá thấp
kém, và quần chúng lại chịu ảnh hưởng nặng nề của giai cấp thống trị ấy, đã
nối giáo cho giặc Minh, tiêu diệt cha con họ Hồ, làm sụp đổ cả một chương
trình cải cách quốc gia tiến bộ nhứt thời đại, xuất phát từ một bộ óc thông
minh nhứt thế kỷ từ Đông sang Tây và cũng vì đó mà nước Việt Nam mất
một dịp canh tân, có thể biến cái quốc gia nhỏ bé nầy thành một cường quốc
lãnh đạo cả Á Châu, nếu trình độ giác ngộ quyền lợi của quần chúng Việt
Nam thời ấy chấp nhận được « hiện tượng HỒ QUÍ LY. »
Nhưng nếu đẳng cấp nho sĩ xem HỒ QUÍ LY là một kẻ thoán đoạt
không hơn không kém, chẳng cần kể đến chân tài và tính cách tiến bộ vượt
bực của chương trình họ Hồ, là vì quyền lợi của họ bị đụng chạm, địa vị của
họ bị lung lay ; nếu nhân dân thời bấy giờ không tán thành nhà Hồ là vì họ
chịu ảnh hưởng trực tiếp của đẳng cấp nho sĩ – cũng là giai cấp lãnh đạo –
mà họ xem như khuôn vàng thước ngọc ; nếu các sử thần và sử gia thời sau
vẫn xem Hồ Quí Ly là kẻ giựt ngôi là vì truyền thống tinh thần đẳng cấp
hoặc vì họ đang phục vụ chế độ quân chủ ; nhưng chúng ta ngày nay, những
người dân chủ, không có bổn phận triệt để trung thành với một cá nhân nào
cả, chúng ta phải có thái độ nào đối với tiền nhân ?
Quan niệm về luân lí, về công và tội của chúng ta khác biệt hẳn với các
thời đại trước.
Hồ Quí Ly có đoạt ngôi nhà Trần hay không ? Điều đó đối với chúng ta
không quan trọng. Điều quan trọng là động cơ nào đã thúc đẩy Hồ Quí Ly
lật đổ nhà Trần ?
Tìm hiểu được động cơ này, xét qua chân giá trị của họ Hồ và toàn bộ
sự nghiệp của con người lịch sử ấy, ta mới có thể quả quyết Hồ Quý Ly có
công hay có tội với đất nước và nhân dân Việt Nam.
Người xưa, vì những quan niệm luân lý hẹp hòi, vì những thành kiến
khắc khe của xã hội, vì những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, đã chịu quá nhiều
https://thuviensach.vn
bất công và thiệt thòi rồi.
Các bậc anh hùng, nghĩa sĩ hành động oanh oanh liệt liệt, nhưng tài bất
thắng thời, hy sinh cả thân thể, sự nghiệp, tánh mạng của mình và có khi của
cả gia tộc ; những bậc chân tài cặm cụi cả đời họ phụng sự cho một lý
tưởng, chịu nghèo khó, khổ cực nhục nhã ; tất cả những người đó đều muốn
ghi tên trong lịch sử để lại danh thơm cho đời sau.
Bổn phận của hậu thế là phải công bình đối với họ.
https://thuviensach.vn
2. MỘT ĐẲNG CẤP LÃNH ĐẠO BẤT XỨNG
Nguyên nhân thất bại chánh của Hồ Quí Ly là lòng người, là nhân tâm.
Mà nhân tâm thời bấy giờ lại đầy thành kiến, chịu ảnh hưởng gần như trực
tiếp của đẳng cấp nho sĩ, cũng là giai cấp thống trị, kiêm giai cấp lãnh đạo
suốt các thời kỳ quân chủ chuyên chế và Bắc thuộc.
Nhưng thực chất của đẳng cấp quan trọng ấy như thế nào ?
Chúng ta biết rằng nền tảng của đẳng cấp nho sĩ Việt Nam là Khổng
Học. Ta thử xem qua những nhận định về Khổng Học dưới đây trong quyển
« Xã Hội Việt Nam » của Lương Đức Thiệp : « Khổng Học nguyên là một
phương pháp chính trị và luân lý. Sau vì mục đích chính trị, Khổng Tử được
vua chúa Trung Quốc và Việt Nam suy tôn lên bực thánh mà xây dựng đình
miếu để tôn thờ rồi rập khuôn cả sĩ phu trong nước suy nghĩ và cư xử theo tư
tưởng và nguyên tắc luân lý của Khổng Tử, người đã xướng ra cái thuyết tôn
quân ».
Nói về quan niệm « chính danh » của Khổng Tử, ông Lương Đức Thiệp
viết :
« Muốn trị thiên hạ thì trước hết phải chính danh đã, có chính danh thì
mọi người mới chịu ở địa vị thật của mình trong xã hội mà không xáo trộn
trật tự của xã hội. Thế nên Khổng Tử cho rằng vua phải ở địa vị vua, thần
phải ở địa vị thần (tôi), dân phải ở địa vị dân thì làm gì có sự loạn lạc, cho
tôi giết vua, dân giết quan, chư hầu lấn quyền thiên tử, cũng như trong gia
đình, cha ở địa vị cha, con giữ địa vị con thì làm gì có sự rối loạn thứ bực
nữa. Cho nên đối với Khổng Tử, thuyết chính danh là một phương pháp
chính trị hệ trọng. Vì vậy, Khổng Tử khởi xướng ra chủ nghĩa tôn vương mà
bắt các vua chư hầu phải phục tòng Thiên Tử nhà Chu, mong thiên hạ lại
được bình trị như xưa để mưu cuộc thống nhất cho quốc gia.
« …Sau thời Xuân Thu, sức phát triển của đẳng cấp nho sĩ đã đến bực
cuối cùng ; đẳng cấp này trở thành phản động nên đã chống lại công cuộc
cải cách quốc gia của Tần Thủy Hoàng. Bởi vậy vua Tần phải dùng phương
https://thuviensach.vn
pháp khủng bố như đốt sách vở, chôn học trò để đàn áp phong trào bảo thủ.
Khi nhà Tần đổ, nhà Hán bèn lợi dụng ngay thuyết tôn quân của Khổng Tử
để lung lạc đẳng cấp nho sĩ. Trí thức hệ của nho giáo liền hóa thành một lợi
khí chính trị. Đẳng cấp nho sĩ bám vào trí thức hệ ấy, đồng thời cũng hóa
thành một dụng cụ sẵn sàng để vua chúa sai dùng. Thêm chế độ khoa cử
khuôn nắn tâm não, đẳng cấp nho sĩ bị lung lạc… Các trào lưu tư tưởng
khác bị nghẽn lối. Thêm nền tảng kinh tế nông nghiệp trong xã hội Trung
Quốc chưa lung lay hẳn, Khổng Học vẫn còn chỗ đứng.
« Khi Khổng Học truyền sang Việt Nam, Phật học và Lão học vẫn còn
thịnh, triều Lý vẫn còn phải mở khoa thi Tam giáo để kén nhân tài. »
Sang đời Trần, Khổng Học thịnh dần. Trong VIỆT NAM SỬ LƯỢC,
Trần Trọng Kim chép : « Năm Nhâm Thìn (I232) mở khoa thi Thái học sinh
1
. Từ đời nhà Lý cũng đã có thi Nho sĩ, nhưng chỉ thi Tam Trường mà thôi,
đến bây giờ mới có khoa thi Thái học sinh, chia ra thứ bậc, làm 3 giáp để
định cao thấp. Đến khoa thi năm Đinh tị (I247) lại đặt ra Tam khôi : Trạng
nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Khoa thi năm Đinh Tỵ này có Lê Văn Hưu
là người làm sử nước nhà trước hết cả, đỗ Bảng nhãn. Năm Giáp Dần (I347)
mở khoa thi Tiến Sĩ, lấy hơn 50 người cho áo mão vinh qui. Trước vẫn có
Thái học sinh, đến bây giờ mới đổi ra là thi Tiến sĩ. »
Khổng Học thời Lý-Trần dầu chưa cực thịnh như từ đời Lê trở về sau,
nhưng đã sản xuất ra những danh nho túc học, cả những bực Thượng Tướng
như Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải,
Phạm Ngũ Lão…, chẳng những sử dụng chữ Tàu một cách thành thạo mà
còn tuyệt diệu nữa. Những bài thơ như « NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ
CƯ » của Lý Thường Kiệt, « ĐOẠT SÁO CHƯƠNG DƯƠNG ĐỘ » của
Trần Quang Khải, « HOÀNH SÁO GIANG SƠN THẬP KỶ THU » của
Phạm Ngũ Lão, và cả vua Trần Thánh Tôn, sau khi đánh đuổi được giặc
Nguyên, cũng đã có 2 câu thơ khánh hỉ tài tình :
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
2
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
https://thuviensach.vn
Tất cả những lời thơ điêu luyện, ý tứ súc tích, hào khí ngất trời ấy,
chứng tỏ Hán học đã ăn sâu vào tâm não của từng lớp lãnh đạo Việt Nam.
Bộ BINH THƯ YẾU LƯỢC, HỊCH TƯỚNG SĨ của Hưng Đạo Vương xác
nhận thêm điều đó.
Đời Trần còn có những tay Khổng học uyên thâm như Mạc Đĩnh Chi,
Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Chu Văn An, Hồ
Tôn Thốc, Trần Nguyên Đán… Ngoài ra còn những bực Khoa Bảng xuất
thân đã chiếm những địa vị cao quí trong chính quyền và các nho sinh khắp
nước do chế độ giáo dục tự do đào tạo chờ ngày lều chổng đi thi mong ơn
mưa móc của triều đình, con đường xuất chính duy nhất dưới thời quân
chủ… Giới nho sĩ đã khá đầy đủ để hợp thành một đẳng cấp hưởng rất nhiều
ưu đãi của chế độ, ăn trên ngồi trước, cho nên họ triệt để trung thành và trở
nên công cụ của chính quyền.
Trong quyển « Xã hội Việt Nam » ông Lương Đức Thiệp viết : « Mất
hết độc lập về tư tưởng, tiêu mòn sinh lực trong mấy quyển Tứ thư, Ngũ
kinh, trong thể lệ bạo tàn của trường quy, đẳng cấp sĩ phu Việt Nam cũng bị
rút rỗng hết sinh khí. Bởi vậy, trải qua bao thế kỷ nghiền ngẫm tư tưởng của
cổ nhân mà đẳng cấp sĩ phu Việt Nam không ghi được một dấu tiến bộ nào
hay một trào lưu tư tưởng mạnh mẽ nào khác Trung Quốc cả. Chính sách
ngu dân của chế độ phong kiến đã có kết quả ; đẳng cấp sĩ phu Việt Nam
bảo thủ đã trở thành một trở lực lớn cho cuộc tiến hóa chung của dân tộc ».
Với cái uy danh của ông Trạng, ông Bảng nhãn, ông Thám Hoa, ông
Cử, ông Tú, với cái uy tín của các thầy Đồ, thượng tri thiên văn một cách
thô sơ, hạ thông địa lý một cách mập mờ, với cái học nhồi sọ trong mớ sách
cũ rích không hề thay đổi, chuyên ngâm hoa vịnh nguyệt bằng lối trích cú,
tầm chương, họ được nhân dân xem là những bực thức giả và dành cho sự
kính trọng thành khẩn.
Trong khi đó thì họ cấu kết với đẳng cấp quí tộc, dựng lên một bức
tường thành kiên cố để vừa bảo vệ một triều đại vững vàng, vừa bảo vệ
những ưu quyền mà họ được hưởng trong xã hội phong kiến, làm chướng
ngại vật trước mọi cải cách cần thiết cho quốc gia.
https://thuviensach.vn
Đáng cho ta căm giận hơn nữa, là khi chế độ đã mục nát, nhân dân
nguy khốn, nạn mất nước có thể xảy ra bất cứ lúc nào, một bực nhân tài xuất
chúng đứng ra lật đổ triều đại cũ, mang hết tâm tư cứu vãn đất nước, đem
quốc gia đến chỗ phồn thịnh, thì một số nho sĩ lại không từ bỏ một hành
động nào để phục hồi cơ nghiệp cho dòng họ mà sứ mạng lịch sử đã cáo
chung.
Một vài danh nho đã dùng thi tài trác tuyệt của mình đến cúi mọp trước
bệ rồng nhà Minh, dập đầu van lạy vua Minh sang chinh phạt họ Hồ, phục
vụ cho những ông vua nửa người nửa ngợm. Họ vô tâm và đốn mạt đến nổi
không nghĩ rằng khi nhà Minh xua quân sang thì mồ mã ông cha họ cũng
chẳng còn, đồng bào họ bị giết chóc, cướp phá, hãm hiếp, quê hương họ bị
dày xéo, chiếm cứ.
Ta thử đọc mấy vần thơ sau đây của danh nho Bùi bá Kỳ, kẻ mà sau
này cùng Trần thiêm Bình hướng dẫn quân Minh sang cướp nước ta. Bùi bá
Kỳ đã mọp trước bệ rồng của Minh Thành-Tổ khóc lạy dâng thơ :
Cô thần trung hiếu hiệu tư vi,
Bạt thiệp sơn xuyên thượng đế kỳ.
Túy thủ vương trì bàn huyết lệ,
3
Ngưỡng kỳ thánh chủ hướng vô si.
Dịch :
Tôi trung côi cút quyết ra tay,
Lặn suối trèo non mới tới đây.
Thềm ngọc nát đầu tan huyết lệ,
Ngữa mong thánh chúa cứu oan này.
Thật là nhục nhã. Giọng thơ Bá Kỳ còn hùng hồn hơn nữa :
Trần sự lăng di vị khả kỳ,
Hàm oan bảo hận hữu thiên tri.
Nam phương thần tử hoài trung nghĩa,
4
Thệ quốc tổn khu phạt Quí Ly.
Dịch :
https://thuviensach.vn
Chửa chắc họ Trần đến nỗi này,
Ngậm oan nuốt giận có trời hay.
Phận tôi Nam Việt ôm trung nghĩa,
Giết Quí Ly thề quyết xã thây.
Những ông « khuyễn nho » ấy chỉ biết trung nghĩa với cá nhân của một
vài kẻ nối dõi bệ rạc của nhà Trần, mà ngu si không biết rằng hành động của
họ sẽ trùm lên đầu họ hai tiếng « Việt gian », đem họa cho cả một dân tộc,
chủ nhân ông thật sự của giải đất mà họ tưởng là cơ nghiệp riêng của một
gia tộc này.
Họ ngu muội, vô trách nhiệm như vậy, tư cách của họ đáng phỉ nhổ như
vậy, nhưng những danh vị hảo, cái trí thức nông cạn, cái uy tín sĩ phu của họ
lại có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân, tạo ra cả một thứ nhân tâm sai
lạc, thiển cận.
Hồ Quí Lý đã thất bại vì cái « nhân tâm » xuất phát từ nền luân lý nho
giáo ấy !
https://thuviensach.vn
3. NHỮNG ÔNG VUA CUỐI TRIỀU
Vốn là con cháu của những bực đại anh hùng đã từng oanh liệt chận
bước tiến của một đạo quân bách chiến bách thắng của Hốt tất Liệt, một đạo
quân mà trước kia, dưới quyền lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn, đã tung vó
ngựa làm mưa làm gió suốt một vùng Trung Á, đến tận Ba Tư và Trung Bắc
Âu Châu, các ông vua cuối triều Trần lại bị hủ hóa, trở thành những con
người nhu nhược, ăn chơi phè phỡn, bỏ bê chính sự, gây sụp đổ cho cả một
triều đại đã có những thời kỳ sáng chói trong lịch sử dân tộc.
Triều Trần bắt đầu suy vong từ thời Vua Minh Tông (I3I4-I329) nhứt là
sau khi giết oan Huệ võ vương Trần Quốc Chân. Đến năm Ất Tỵ thì ông
nhường ngôi cho Thái tử Vượng, lui về làm Thái Thượng Hoàng theo tục lệ
nhà Trần.
Thái tử Vượng lên ngôi mới được mười tuổi, tức là vua Hiến Tông
(I329-I34I), nhưng quyền chính trong tay thượng hoàng. Suốt thời gian làm
vua, rồi làm Thái Thượng Hoàng, Minh Tông không làm được một công
cuộc gì đáng kể, chỉ an hưởng thái bình do tiền nhân để lại. Hiến Tông ngồi
trên ngai vàng được gần mười ba năm, nhưng lúc nào cũng lệ thuộc vào
Minh Tông. Đến năm tân tị thì ông mất, thọ được hai mươi ba tuổi.
Hiến Tông chưa kịp có con, nên Thượng Hoàng Minh Tông lập người
em tên Hạo lên ngôi, tức là vua Dụ Tông (I34I-I369). Từ năm I34I đến I357,
Minh Tông còn sống và tiếp tục tham dự việc triều chính. Mặc dầu không có
gì đặc sắc, và nạn đói đã xảy ra trong nhân dân vì mất mùa, thời kỳ Minh
Tông thay Dụ Tông trị nước cũng chưa xảy ra điều gì quá tồi tệ.
Triều Trần thật sự xuống dốc từ khi Thượng Hoàng qua đời (I358), rồi
các cựu thần như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn tiếp nối mất đi,
gian thần lộng hành trong triều, đến nỗi danh nho Chu Văn An phải dâng
thất trảm sớ xin chém bảy người quyền thần, nhưng Dụ Tông bỏ qua. Ông từ
quan về ẩn dật ở núi Chí Linh.
https://thuviensach.vn
Tự do, không người kiềm chế, can gián, Dụ Tông tha hồ rượu chè, trụy
lạc, xây cung điện, đào hồ, đắp núi, biến triều đình thành một sòng bạc, quán
rượu ; tổ chức yến tiệc, hát xướng linh đình náo nhiệt.
Vì vua và đình thần như vậy, nên bọn quan hầu của vua chúa xâm
chiếm quyền lợi, đất đai, tranh giành các nguồn sống của nhân dân, cho đến
cung nhân cũng làm quạt đưa ra bán bên ngoài. Giặc cướp nổi lên khắp nơi,
nạn đói hoành hành. Xã hội rối loạn, dân chúng lâm vào tình cảnh cơ cực.
Tình trạng đất nước thời bấy giờ vô cùng thê thảm.
Năm kỷ dậu (I369) Dụ Tông mất, không con nối ngôi. Triều đình định
lập Cung Định Vương là anh Dụ Tông lên làm vua, nhưng Hoàng thái hậu
nhứt định lập con nuôi của Cung Túc Vương là Dương Nhật Lễ. Nhật Lễ
giết Hoàng thái hậu và Cung Định Vương, định cải họ là Dương để chấm
dứt nhà Trần.
Tôn thất nhà Trần hội nhau, đem binh bắt Nhật Lễ, rước Cung Tĩnh
Vương lên ngôi, tức là vua Nghệ Tông (I370-I372).
Nghệ Tông là ông vua nhu nhược, mọi việc trong triều đều để cho Hồ
Quí Ly quyết đoán.
Năm Nhâm Tỵ (I372), Nghệ Tông truyền ngôi cho em là Thái tử Kính,
về ở phủ Thiên Tường làm Thái Thượng Hoàng.
Thái Tử Kính lên ngôi, tức là vua Duệ Tông (I374-I377) lập em họ Hồ
Quí Ly làm Hoàng hậu.
Năm Bính thìn (I376), quân Chiêm thành do vua Chiêm là Chế Bồng
Nga lãnh đạo, sang đánh phá ở Hóa Châu. Duệ Tông mang binh đi chinh
phạt, rồi từ trần lúc tiến quân gần đến thành Đồ Bàn (I377).
Thượng hoàng lập con vua Duệ Tông là Hiến lên ngôi, tức là vua Phế
Đế (I377-I378)
Tháng tám năm Mậu thìn (I388), vì thấy Thượng hoàng tin dùng Hồ
Quí Ly, Phế Đế mưu với các cận thần trừ họ Hồ, nhưng việc bại lộ, Phế Đế
bị Hồ Quí Ly ngầm cho người giết chết.
https://thuviensach.vn
Thượng hoàng Nghệ Tông lập con út của mình là Chiêu Định Vương
lên nối ngôi, tức là vua Thuận Tông (I388-I389).
Tháng chạp năm Giáp tuất (I394), Thượng hoàng mất ; trị vì được ba
năm, làm Thái Thượng Hoàng 27 năm, thọ 74 tuổi.
Nghệ Tông mất rồi, Quí Ly lên làm phụ chính Thái sư, vào ở hẳn trong
điện, cho quân vào xây thành Tây Đô ở động Yên tôn, Thanh Hóa. Đến năm
Bính tị (I396) Quí Ly bắt Thuận Tông phải dời kinh về Tây Đô. Qua tháng
ba năm sau, Quí Ly lập mưu ép Thuận Tông nhường ngôi cho con là Thái tử
An.
Thuận Tông nhường ngôi cho con, lúc bây giờ mới lên ba tuổi, tức là
Thiếu Đế (I398-I400), rồi đi tu tiên.
Hồ Quí Ly làm phụ chánh, xưng là Khâm Đức Hưng Liệt Đại Vương,
sai người giết Thuận Tông đi.
Đến tháng hai năm Canh Thìn (I400), Quý Li bỏ Thiếu Đế, tự lập mình
lên làm vua.
Nhà Trần làm vua nước Việt nam được I2 đời, tổng cộng I75 năm.
https://thuviensach.vn
4. KHI ÔNG HOÀNG MÊ ĐÀO HÁT BỘI
Trước khi Quý Ly xuất hiện trên chính trường, Trần triều cũng đã suýt
mất giang san về tay họ khác trong đường tơ kẻ tóc, do lỗi của một hôn quân
và một bà Thái hậu ngu xuẩn.
Kẻ hưởng ngôi nhà Trần lại là một người tồi tệ, dâm dật, trụy lạc và có
một nguồn gốc mơ hồ, dính dáng rất gần với lịch sử… hát bội !
Năm Thái Trí thứ I2 (Kỷ Dậu – I369) vua Dụ Tông qua đời vì bịnh
dương suy nên không có con nối dòng. Vợ vua Minh Tông là Hiến Từ thái
hậu nhứt định lập con nuôi của Cung Túc Vương (Vương cũng là con Minh
Tông như Dụ Tông) lên ngôi, trong khi triều đình định lập Cung Định
Vương là anh Dụ Tông.
Nguyên đầu niên hiệu Thiệu Bảo (I279-I284) đời Trần Nhân Tông,
quan quân ta đánh Nguyên, bắt được người hát chèo là Lý Nguyên Cát. Cát
hát rất hay, các con hầu, đầy tớ các nhà quyền thế, giàu có nước ta bấy giờ
tranh nhau học tập. Nguyên Cát diễn truyện cổ như tuồng Vương Mẫu hiến
bàn đào. Trong ban hát có I2 người mặc áo cẩm bào hoặc áo thêu, đánh
trống thổi sáo, giọng hát khi cao khi hạ, lúc bỗng lúc trầm, sự buồn vui đều
theo tuồng tích. Hát chèo, hát bội phát xuất từ đó (KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ
chính biên, quyển I0, tờ I5 a-b).
Theo Khâm Định việt sử, quyển I0, tờ 22a-b, Đại Việt Sử ký toàn thư,
quyển 7, tờ 29 a-b : trong ban hát có vợ một anh kép tên là Dương Khương ;
cô đào này đóng vai Tây Vương Mẫu. Cung Túc Vương Nguyên Dực (anh
Dụ Tông) mê sắc đẹp, lấy làm vợ. Người đào hát ấy đã có thai sẵn, sau sanh
Nhật Lễ, vì trong truyện Hiến bàn đào có ngày lễ Vương Mẫu dâng đào, nên
đặt tên Nhật Lễ.
Lên ngôi chưa được một năm, Nhật Lễ lộ dã tâm đánh thuốc độc người
ơn là Hiến Từ và định đổi họ Trần thành họ Dương. Ông vua này ngày đêm
đều say sưa dâm dật, vui chơi và chỉ thích những trò vui vặt. Tôn thất và
trăm quan đều thất vọng.
https://thuviensach.vn
Lúc ấy, các thân vương, công chúa nuôi trong nhà rất nhiều thủ hạ, lắm
gia nô. Thái tể Nguyên Trác tức Cung Tĩnh Vương cùng Thiên Ninh công
chúa và nhiều tôn thất đang đêm mang gia nô vào triều đình giết Nhật Lễ.
Hắn trèo tường núp dưới cầu trốn biệt. Khi Nguyên Trác và Thiên Ninh
công chúa kéo về thì trời đã sáng. Nhật Lễ về cung sai người tầm nả những
kẻ chủ mưu, bắt được I8 người tôn thất nhà Trần, trong số đó có Cung Tĩnh
Vương Nguyên Trác. Thiên Ninh công chúa trốn được, khóc bảo Cung Định
Vương Nguyên Phủ : « Thiên hạ của tổ tông nhà mình, sao nở bỏ cho người
khác ? Em hãy trốn đi mà tìm đường phục nghiệp Trần ! » Cung Định
Vương Nguyên Phủ có con gái gả cho Nhật Lễ nhưng cũng sợ vạ, trốn lên
Đà Giang, và ước ngầm với Cung Tuyên Vương Nguyên Kính, Trần Nguyên
Đán và công chúa Thiên Ninh họp nhau trên sông Đại Lại (thuộc tỉnh Thanh
Hóa) để khởi nghĩa.
Tôn thất và các quan dần dần trốn khỏi thành theo ông và khuyên ông
mau về dẹp loạn.
Tháng giêng năm Canh Tuất (I370), Cung Định Vương và các tôn thất,
trăm quan tiến quân về kinh thành. Đến Kiến Hưng (Nghĩa Hưng, thuộc tỉnh
Nam Định), ông lên ngôi, quần thần tôn hiệu là Thế Thiên Kiến Cực Thuận
Hiếu Hoàng Đế, tức là Nghệ Tông. Nghệ Tông giáng Nhật Lễ làm Hôn Đức
Công rồi giết đi, đặt niên hiệu Thiệu Khánh (I370).
Đọc đoạn sử này, chúng ta đã thấy rõ Trần triều đã bắt đầu thối nát.
Vua Dụ Tông là một hôn quân vô đạo làm cho triều chánh ngữa
nghiêng, nhân dân thống khổ, lòng người ly tán, anh ông là Cung Túc
Vương Nguyên Dực cũng chẳng hơn gì, mê đào hát, cướp vợ dân. Cả triều
đình, từ hoàng thân quốc thích đến bá quan văn võ đều nhu nhược để cho
một người đàn bà là vợ Minh Tông, Hiến Từ Thái hậu thao túng, quyết định
đại sự là lập vua.
Theo ông Trần Hàm Tân, thuộc trường Bác-cổ Hà Nội, tác giả quyển
TRUYỆN CỤ CHU VĂN AN thì bà Hiến Từ cũng chẳng phải là một người
đàn bà ngu muội. Đây là một chuyện nhỏ về bà Hiến Từ :
https://thuviensach.vn
Sau khi dâng THẤT TRẢM SỚ lên vua Dụ Tông vô hiệu, cụ Chu Văn
An từ quan về ở ẩn. Tuy vậy, cứ mỗi lần vào kỳ hội lớn, cụ cũng đến bái yết
Dụ Tông. Có lần Dụ Tông muốn ủy thác chính sự cho cụ, nhưng cụ từ chối.
Hiến Từ Thái hoàng Thái hậu (vì bà là vợ Minh Tông) bảo vua : « Kẻ sĩ
thanh tu kia, thiên tử đã không thể ép làm tôi được thì có thể nào đem chính
sự sử nỗi được người ? ». Vua khiến nội thần mang y phục ban cho. Cụ lạy
tạ lãnh ân tứ, nhưng rồi đem tặng cho người khác.
Xét người được như vậy, bà Hiến Từ nào phải là một phụ nữ tầm
thường. Thế mà chẳng hiểu vì sao bà lại đem thiên hạ nhà Trần trao cho một
người ngoại tộc bất xứng đến nỗi bị chính kẻ mà bà nâng đở lên địa vị tối
cao đánh thuốc độc chết !
Nếu Nhật Lễ là người tài trí, gian xảo hơn người thì cơ nghiệp nhà Trần
nào tới tay Hồ Quí Ly ? Và không sớm thì muộn Việt Nam cũng mất vào tay
quân Minh !
https://thuviensach.vn
5. ĐỐI NGOẠI
GIAO THIỆP VỚI TRUNG HOA
Thời ấy, nhà Nguyên bên Trung Hoa đã suy. Những vị anh hùng người
Hán như Chu Nguyên Chương, Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành, khởi
binh đánh đuổi quân Mông cổ xâm lược. Chu Nguyên Chương dấy nghiệp ở
đất Từ Châu (tỉnh An Huy), chiếm thành Kim Lăng, mười lăm năm dứt
được nhà Nguyên, thống nhất thiên hạ, dựng lên cơ nghiệp nhà Minh, hiệu
là Minh Thái Tổ.
Năm Mậu Thân (I368), Minh Thái Tổ sai sứ đưa thư sang dụ nước ta,
Dụ Tông sai quan Lễ bộ thị lang là Đào Văn Đích sang cống.
Việt Nam lúc ấy đã suy nhược, nhưng nhờ nhà Minh vừa định xong
thiên hạ, bận rộn sửa sang việc nước, chưa rãnh tay tính việc thôn tính Việt
Nam, bằng không, với tình thế quốc gia hồi ấy, Trần triều không thể nào
đương đầu nỗi với một cuộc xâm lăng từ Bắc phương.
Đến khi chính sự Trung hoa đã yên, nhà Minh bắt đầu dòm dõ nước ta,
thường sai sứ sang sách nhiễu. Năm Giáp Tỵ (I384) Minh Thái Tổ sai sứ
sang bắt Việt Nam phải cung cấp năm ngàn thạch lương cho quân Minh
đóng ở Vân Nam. Năm sau (I385) chúng lại cho sứ sang bắt ta phải đưa sang
Kim lăng 20 tăng nhân, cùng gỗ quí và lương thảo. Chủ ý của họ là dò dẫm
tình hình nước ta.
GIAO THIỆP VỚI CHIÊM THÀNH
Nỗi bận tâm đối ngoại của chánh quyền triều Trần là Chiêm Thành.
Dưới triều Dụ Tông, Chiêm Vương Chế A Nam qua đời. Con là Chế
Mộ, rể là Bồ Đề tranh nhau ngôi vua. Dân Chiêm ủng hộ Bồ Đề. Năm Nhâm
Thìn (I352) Chế Mộ chạy sang Việt Nam cầu cứu…
https://thuviensach.vn
Năm Quí Tỵ (I353), Dụ Tông cho quân đưa Chế Mộ về nước, nhưng
đến Cổ Lủy (thuộc Quảng Ngãi ngày nay) thì bị quân của Bồ Đề chận đánh.
Quân ta thua chạy về. Chế Mộ buồn rầu, chẳng bao lâu thì mất.
Từ đó, nhìn thấy thực lực của ta, quân Chiêm thường sang xâm phạm
bờ cõi.
Năm Đinh Tỵ (I367), Dụ Tông sai Trần Thế Hưng và Đỗ Tử Bình xuất
quân đánh Chiêm. Đến đất Chiêm động (thuộc phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng
Nam), bị phục binh Chiêm thành đánh bắt Trần Thế Hưng, Đỗ Tử Bình phải
lui quân.
Trong khoảng I3 năm mà hai lần thua trận, nước ta mất hết uy tín đối
với Chiêm thành, nên năm Mậu Thân (I368), Chiêm cho sứ sang đòi đất Hóa
châu. Vua Chiêm lúc ấy là Chế Bồng Nga là một vị anh hùng, trị nước
nghiêm minh, dụng binh tài giỏi, chuyên dùng voi ra trận. Chế Bồng Nga
xua quân đánh phá tận thành Thăng Long mấy lần, làm vua quan nhà Trần
bao phen kinh sợ.
Năm Canh Tuất (I370), khi tôn thất nhà Trần giết xong Nhật Lễ, lập
Nghệ Tông, mẹ Nhật Lễ chạy sang Chiêm thành xin Chế Bồng Nga can
thiệp : Nhân cơ hội ấy, Chiêm vương tiến quân tận Thăng long, đốt sạch
cung điện, vơ vét báu vật, bắt đàn bà con gái mang về Chiêm thành. Nhân
dân ta vô cùng phẩn uất.
Năm Bính Thìn (I376), vì Chiêm quân sang phá khuấy ở Hóa Châu,
Duệ Tông tức giận chuẩn bị chinh phạt…
Năm sau là Đinh Tỵ (I377), Duệ Tông thân chinh cùng Hồ Quí Ly phạt
Chiêm. Đến gần thành Đồ bàn bị quân Chiêm vây đánh, Duệ Tông tử trận,
Hồ Quí Ly phải rút quân về.
Một tháng sau, quân Chiêm sang cướp phá Thăng Long, không ai
chống nổi.
Tháng năm năm Mậu Ngọ (I378), quân Chiêm lại sang đánh Nghệ An
rồi cướp phá Thăng Long.
https://thuviensach.vn
Năm Canh Thân (I380), chúng lại đánh phá Thanh Hóa, Nghệ An,
nhưng lần này bị Hồ Quí Ly đánh đuổi được.
Năm Nhâm Tuất (I832), chúng sang đánh cướp ở Thanh Hóa, bị Hồ
Quí Ly cùng tướng Nguyễn Đa Phương đánh lui.
Sau hai trận này, quân thế Việt Nam hơi vững, nên tháng giêng năm
Quí Hợi (I383), Thượng Hoàng sai Quí Ly mang chiến thuyền phạt Chiêm,
nhưng vào tới cửa Nương Loan (nay là huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà tĩnh) gặp bão
to, nhiều thuyền bị vỡ và đắm, quân ta phải rút về.
Qua tháng sau, Chế Bồng Nga cùng tướng La Khải mang quân sang
đánh ở Quảng Oai. Thượng Hoàng sai tướng Mật Ôn ra giữ châu Tam Kỳ,
thuộc địa hạt Quốc Oai, nhưng bị Chiêm đánh bắt. Thượng Hoàng Nghệ
Tông sợ hãi, cùng với vua là Phế đế chạy sang Đông Ngạn ẩn náu, chờ giặc
lui mới dám trở về kinh đô.
Năm Kỷ Tỵ (I389), Chế Bồng Nga dẫn quân đánh Thanh Hóa. Hồ Quí
Ly vâng lịnh vua đem binh ngăn chống ở làng Cổ Vô, giữ được hai mươi
ngày rồi bị phục binh Chiêm giết hại binh ta rất nhiều. Hồ Quí Ly phải chạy
về kinh, tướng Nguyễn Đa Phương đang đêm rút quân về.
Qua tháng mười một, quân Chiêm tiến vào sông Hoàng Giang không
tìm được chỗ đóng quân thuận tiện, phải lui về đóng ở Hải Triều (thuộc địa
phận Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình).
Tháng Giêng Canh Ngọ (I390), Chế Bồng Nga dẫn hơn I00 chiến
thuyền đến gần địa điểm đóng quân của ta để dò xét trận thế. Một gia nhân
của Chế Bồng Nga phạm tội chết trốn sang bên ta chỉ rõ thuyền họ Chế.
Khát Chân truyền tập trung hỏa lực bắn vào thuyền ấy, giết Chiêm Vương
tại trận, rồi xua quân tấn công. Quân Chiêm tan chạy. Khát Chân cho cắt đầu
chúa Chiêm về dâng vua.
Tướng Chiêm La Khải hỏa táng xác Chế Bồng Nga rồi thu quân về
nước đoạt luôn ngôi vua. Từ đó, tạm yên về mặt Chiêm.
https://thuviensach.vn
6. TÌNH CẢNH KHỐN ĐỐN CỦA NHÂN DÂN
Dưới thời phong kiến, thường dân – Nông, Công, Thương – là đẳng cấp
sản xuất trong nước, phải nuôi dưỡng đẳng cấp quí tộc, những ông hoàng, bà
chúa, các bực công hầu, ăn sung mặc sướng, tôi tớ đầy dinh thự, và cả đẳng
cấp nho sĩ ăn trên ngồi trước, chuyên ngâm thơ vịnh nguyệt, đờn ca, xướng
hát, cờ bạc vui chơi… Họ bị khinh khi, bạc đãi, sách nhiễu không ngớt. Gặp
vua sáng, tôi hiền thì còn khá, vào những thời hôn quân vô đạo, quan lại
tham nhũng thì nỗi cơ cực không biết đến đâu.
Đã vậy mà còn phải đóng góp để cung phụng cho nước Trung hoa rộng
lớn dưới hình thức cống sứ, nào người vàng, người bạc, nào những vật trân
quí như châu báu, ngà voi, kỳ nam cùng lương thảo hàng năm cả muôn
thạch.
Đó là thời bình.
Vào thời loạn, đẳng cấp sản xuất còn phải nuôi thêm mấy trăm ngàn
quân lính và chịu chi phí chiến tranh, lại bị quân giặc cướp bóc, hãm hiếp vợ
con, lùa trâu bắt người mang đi, đốt nhà cửa, chà đạp hoa mầu.
Những thảm cảnh ấy, nhân dân dưới các triều vua cuối đời Trần đã phải
gánh đủ.
Theo chính sử, từ năm Đại trị nguyên niên (I358) trở đi, sau khi
Thượng hoàng Minh Tông qua đời, vua Dụ Tông chơi bời trác táng, phung
phí công quĩ vào việc đào hồ đắp núi, tổ chức cờ bạc trong cung, đánh một
tiếng bạc hàng 300 đồng vàng, tiệc tùng, hát xướng mỗi đêm. Lẽ tất nhiên là
nhân dân phải thắt lưng buộc bụng đóng góp thêm cho vua chúa, công hầu,
khanh tướng vui chơi cho thỏa thích. Vua quan như vậy nên bọn quan hầu
của nhóm quí tộc chiếm cả bãi sông Tô lịch là đất trồng rau của dân để làm
của riêng. Quan lại khắp nơi thi nhau tranh giành nguồn lợi kinh tế của đại
chúng, gây cảnh đói khổ cho giới cần lao.
https://thuviensach.vn
Vua quan loạn như thế, nên bọn bất lương nổi lên cướp phá nhân dân,
làm cho những người không tự vệ phải khốn đốn khổ sở.
Chánh quyền suy nhược nên tiểu quốc như ...
Tên sách : HỒ QUÍ LY
NHÂN VẬT LỖI LẠC NHẤT THỜI ĐẠI
TỪ ĐÔNG SANG TÂY
Tác giả xuất bản : QUỐC ẤN
Tổng phát hành : NXB NAM CƯỜNG
Năm xuất bản : 1974
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : white-eyes, conmeohoang, kayuya,
Lucabarazi, xiangjiao, Võ Kim Như, Nhok_kira, puzdao,
nquocan, dacxeru, VinhPhuc.Vo, huonggiang, mphuongth,
kenk25, Martian_K, Akira Thanh, proofread
Kiểm tra chính tả : Lã Phương Thúy,
Phạm Thị Hồng Khánh, Võ Thành Phú, Đinh Thanh Sơn,
Trương Thu Trang, Nguyễn Mỹ Quỳnh Dao
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 24/06/2018
https://thuviensach.vn
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA I000
QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE4U.ORG
Cảm ơn tác giả QUỐC ẤN và nhà phát hành NAM CƯỜNG đã chia sẻ
với bạn đọc những kiến thức quý giá.
https://thuviensach.vn
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT : XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI TRẦN MẠT
I. MỘT BỔN PHẬN CỦA HẬU THẾ
2. MỘT ĐẲNG CẤP LÃNH ĐẠO BẤT XỨNG
3. NHỮNG ÔNG VUA CUỐI TRIỀU
4. KHI ÔNG HOÀNG MÊ ĐÀO HÁT BỘI
5. ĐỐI NGOẠI
GIAO THIỆP VỚI TRUNG HOA
GIAO THIỆP VỚI CHIÊM THÀNH
6. TÌNH CẢNH KHỐN ĐỐN CỦA NHÂN DÂN
PHẦN THỨ HAI : THÀNH KIẾN NHÂN DÂN VÀ Ý CHÍ CÁCH
MẠNG CỦA HỌ HỒ
I. CẢM NGHĨ CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG THỜI VỚI HỌ HỒ VÀ
SỬ QUAN CỦA HẬU THẾ
2. MỤC ĐÍCH BIỆN CHÍNH CHO THỦ ĐOẠN
3. NHỮNG LÝ DO THÚC ĐẨY VIỆC CƯỚP CHÍNH QUYỀN
4. HAI LỰC LƯỢNG PHẢN ĐỘNG
PHẦN THỨ BA : NHỮNG CÔNG CUỘC CÁCH MẠNG QUỐC GIA
I. NGUỒN GỐC VÀ HOẠN LỘ
NGUỒN GỐC
BƯỚC HOẠN LỘ
2. CẢI CÁCH HÀNH CHÁNH
3. CẢI CÁCH QUÂN SỰ
4. CẢI CÁCH KINH TẾ TÀI CHÁNH ĐIỀN ĐỊA
KINH TẾ TÀI CHÁNH
https://thuviensach.vn
ĐIỀN ĐỊA
5. CẢI CÁCH XÃ HỘI
6. CẢI CÁCH VĂN HÓA GIÁO DỤC
PHẦN THỨ TƯ : NHỮNG NGÀY TÀN CỦA TRIỀU HỒ
I. CHUẨN BỊ CHỐNG XÂM LĂNG
2. TÂM LÝ CHIẾN
3. THIÊN TÀI THẤT THẾ
https://thuviensach.vn
QUỐC ẤN
HỒ QUÍ LY
Nhân vật lỗi lạc nhất thời đại
từ Đông sang Tây
Khảo Luận
Tác giả xuất bản – Nam Cường tổng phát hành
https://thuviensach.vn
PHẦN THỨ NHẤT : XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI
TRẦN MẠT
I. MỘT BỔN PHẬN CỦA HẬU THẾ
Suốt lịch sử Việt Nam, một nhân vật lỗi lạc nhứt trong thời đại của
người từ Đông sang Tây lại bị hậu thế đối xử thật bất công, đó là HỒ QUÍ
LY.
Nói đến HỒ QUÍ LY, đại đa số người Việt Nam đã đọc qua lịch sử
nước nhà, đều nghĩ ngay đến một kẻ soán nghịch, một gian thần cướp ngôi
nhà Trần.
Nền luân lý Khổng Mạnh, vị thần giữ nhà của chế độ quân chủ, đã đầu
độc dân ta hằng bao nhiêu thế kỷ, dạy người dân thần thánh hóa vua chúa,
trung quân một cách mù quáng, và từ đó nảy sanh thành kiến trọng chính
thống, thẳng tay kết án tất cả những ai nắm quyền bằng một đường lối khác
hơn là truyền tử lưu tôn trong một triều đại đã có sẳn, dầu những ông vua
cuối triều – con cháu của một đấng anh hùng dân tộc hoặc của một kẻ đoạt
ngôi cũng thế – đã bị hủ hóa, trở thành những cá nhân vô giá trị, gian dâm
vô đạo, ngu xuẩn hay tàn bạo, hại dân hại nước. Một LÊ CHIÊU THỐNG
dắt voi về dầy mồ, suýt dâng tổ quốc cho quân Thanh xâm lăng chà đạp nếu
không có một chiến lược gia thần tốc, một NẢ PHÁ LUÂN Việt Nam – một
NẢ PHÁ LUÂN bất bại – đứng lên đánh đuổi bọn ngoại xâm tham tàn trong
vài trận đánh chớp nhoáng sáng chói vào bực nhứt lịch sử, thì một ông vua
tâm địa nhỏ nhen hèn hạ, ông vua đầy tội lỗi với dân tộc như vậy, vẫn được
đẳng cấp sĩ phu đương thời, trong đó có những nhà đại trí thức, triệt để trung
thành, sẳn lòng chết cho cá nhân tồi tệ ấy. Cả một đám di thần, thà chịu mai
một tài danh, tức là hủy bỏ, phá hoại một phần quan trọng của nguồn tài
nguyên quốc gia là nhân lực – hơn là mang tài sức phụng sự đất nước dưới
một triệu đại khác xứng đáng hơn. Một đại thi hào như NGUYỄN DU, vẫn
mang cái mặc cảm di thần nhà Lê nghĩa là trung với ông vua phản quốc kia
– cho đến chết.
https://thuviensach.vn
Chính cái tinh thần hẹp hòi trọng chính thống của đẳng cấp nho sĩ thời
Trần Mạt – cũng là giai cấp thống trị trong xã hội Việt Nam thời ấy – trong
một thời đại mà trình độ trưởng thành chính trị của quần chúng quá thấp
kém, và quần chúng lại chịu ảnh hưởng nặng nề của giai cấp thống trị ấy, đã
nối giáo cho giặc Minh, tiêu diệt cha con họ Hồ, làm sụp đổ cả một chương
trình cải cách quốc gia tiến bộ nhứt thời đại, xuất phát từ một bộ óc thông
minh nhứt thế kỷ từ Đông sang Tây và cũng vì đó mà nước Việt Nam mất
một dịp canh tân, có thể biến cái quốc gia nhỏ bé nầy thành một cường quốc
lãnh đạo cả Á Châu, nếu trình độ giác ngộ quyền lợi của quần chúng Việt
Nam thời ấy chấp nhận được « hiện tượng HỒ QUÍ LY. »
Nhưng nếu đẳng cấp nho sĩ xem HỒ QUÍ LY là một kẻ thoán đoạt
không hơn không kém, chẳng cần kể đến chân tài và tính cách tiến bộ vượt
bực của chương trình họ Hồ, là vì quyền lợi của họ bị đụng chạm, địa vị của
họ bị lung lay ; nếu nhân dân thời bấy giờ không tán thành nhà Hồ là vì họ
chịu ảnh hưởng trực tiếp của đẳng cấp nho sĩ – cũng là giai cấp lãnh đạo –
mà họ xem như khuôn vàng thước ngọc ; nếu các sử thần và sử gia thời sau
vẫn xem Hồ Quí Ly là kẻ giựt ngôi là vì truyền thống tinh thần đẳng cấp
hoặc vì họ đang phục vụ chế độ quân chủ ; nhưng chúng ta ngày nay, những
người dân chủ, không có bổn phận triệt để trung thành với một cá nhân nào
cả, chúng ta phải có thái độ nào đối với tiền nhân ?
Quan niệm về luân lí, về công và tội của chúng ta khác biệt hẳn với các
thời đại trước.
Hồ Quí Ly có đoạt ngôi nhà Trần hay không ? Điều đó đối với chúng ta
không quan trọng. Điều quan trọng là động cơ nào đã thúc đẩy Hồ Quí Ly
lật đổ nhà Trần ?
Tìm hiểu được động cơ này, xét qua chân giá trị của họ Hồ và toàn bộ
sự nghiệp của con người lịch sử ấy, ta mới có thể quả quyết Hồ Quý Ly có
công hay có tội với đất nước và nhân dân Việt Nam.
Người xưa, vì những quan niệm luân lý hẹp hòi, vì những thành kiến
khắc khe của xã hội, vì những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, đã chịu quá nhiều
https://thuviensach.vn
bất công và thiệt thòi rồi.
Các bậc anh hùng, nghĩa sĩ hành động oanh oanh liệt liệt, nhưng tài bất
thắng thời, hy sinh cả thân thể, sự nghiệp, tánh mạng của mình và có khi của
cả gia tộc ; những bậc chân tài cặm cụi cả đời họ phụng sự cho một lý
tưởng, chịu nghèo khó, khổ cực nhục nhã ; tất cả những người đó đều muốn
ghi tên trong lịch sử để lại danh thơm cho đời sau.
Bổn phận của hậu thế là phải công bình đối với họ.
https://thuviensach.vn
2. MỘT ĐẲNG CẤP LÃNH ĐẠO BẤT XỨNG
Nguyên nhân thất bại chánh của Hồ Quí Ly là lòng người, là nhân tâm.
Mà nhân tâm thời bấy giờ lại đầy thành kiến, chịu ảnh hưởng gần như trực
tiếp của đẳng cấp nho sĩ, cũng là giai cấp thống trị, kiêm giai cấp lãnh đạo
suốt các thời kỳ quân chủ chuyên chế và Bắc thuộc.
Nhưng thực chất của đẳng cấp quan trọng ấy như thế nào ?
Chúng ta biết rằng nền tảng của đẳng cấp nho sĩ Việt Nam là Khổng
Học. Ta thử xem qua những nhận định về Khổng Học dưới đây trong quyển
« Xã Hội Việt Nam » của Lương Đức Thiệp : « Khổng Học nguyên là một
phương pháp chính trị và luân lý. Sau vì mục đích chính trị, Khổng Tử được
vua chúa Trung Quốc và Việt Nam suy tôn lên bực thánh mà xây dựng đình
miếu để tôn thờ rồi rập khuôn cả sĩ phu trong nước suy nghĩ và cư xử theo tư
tưởng và nguyên tắc luân lý của Khổng Tử, người đã xướng ra cái thuyết tôn
quân ».
Nói về quan niệm « chính danh » của Khổng Tử, ông Lương Đức Thiệp
viết :
« Muốn trị thiên hạ thì trước hết phải chính danh đã, có chính danh thì
mọi người mới chịu ở địa vị thật của mình trong xã hội mà không xáo trộn
trật tự của xã hội. Thế nên Khổng Tử cho rằng vua phải ở địa vị vua, thần
phải ở địa vị thần (tôi), dân phải ở địa vị dân thì làm gì có sự loạn lạc, cho
tôi giết vua, dân giết quan, chư hầu lấn quyền thiên tử, cũng như trong gia
đình, cha ở địa vị cha, con giữ địa vị con thì làm gì có sự rối loạn thứ bực
nữa. Cho nên đối với Khổng Tử, thuyết chính danh là một phương pháp
chính trị hệ trọng. Vì vậy, Khổng Tử khởi xướng ra chủ nghĩa tôn vương mà
bắt các vua chư hầu phải phục tòng Thiên Tử nhà Chu, mong thiên hạ lại
được bình trị như xưa để mưu cuộc thống nhất cho quốc gia.
« …Sau thời Xuân Thu, sức phát triển của đẳng cấp nho sĩ đã đến bực
cuối cùng ; đẳng cấp này trở thành phản động nên đã chống lại công cuộc
cải cách quốc gia của Tần Thủy Hoàng. Bởi vậy vua Tần phải dùng phương
https://thuviensach.vn
pháp khủng bố như đốt sách vở, chôn học trò để đàn áp phong trào bảo thủ.
Khi nhà Tần đổ, nhà Hán bèn lợi dụng ngay thuyết tôn quân của Khổng Tử
để lung lạc đẳng cấp nho sĩ. Trí thức hệ của nho giáo liền hóa thành một lợi
khí chính trị. Đẳng cấp nho sĩ bám vào trí thức hệ ấy, đồng thời cũng hóa
thành một dụng cụ sẵn sàng để vua chúa sai dùng. Thêm chế độ khoa cử
khuôn nắn tâm não, đẳng cấp nho sĩ bị lung lạc… Các trào lưu tư tưởng
khác bị nghẽn lối. Thêm nền tảng kinh tế nông nghiệp trong xã hội Trung
Quốc chưa lung lay hẳn, Khổng Học vẫn còn chỗ đứng.
« Khi Khổng Học truyền sang Việt Nam, Phật học và Lão học vẫn còn
thịnh, triều Lý vẫn còn phải mở khoa thi Tam giáo để kén nhân tài. »
Sang đời Trần, Khổng Học thịnh dần. Trong VIỆT NAM SỬ LƯỢC,
Trần Trọng Kim chép : « Năm Nhâm Thìn (I232) mở khoa thi Thái học sinh
1
. Từ đời nhà Lý cũng đã có thi Nho sĩ, nhưng chỉ thi Tam Trường mà thôi,
đến bây giờ mới có khoa thi Thái học sinh, chia ra thứ bậc, làm 3 giáp để
định cao thấp. Đến khoa thi năm Đinh tị (I247) lại đặt ra Tam khôi : Trạng
nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Khoa thi năm Đinh Tỵ này có Lê Văn Hưu
là người làm sử nước nhà trước hết cả, đỗ Bảng nhãn. Năm Giáp Dần (I347)
mở khoa thi Tiến Sĩ, lấy hơn 50 người cho áo mão vinh qui. Trước vẫn có
Thái học sinh, đến bây giờ mới đổi ra là thi Tiến sĩ. »
Khổng Học thời Lý-Trần dầu chưa cực thịnh như từ đời Lê trở về sau,
nhưng đã sản xuất ra những danh nho túc học, cả những bực Thượng Tướng
như Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải,
Phạm Ngũ Lão…, chẳng những sử dụng chữ Tàu một cách thành thạo mà
còn tuyệt diệu nữa. Những bài thơ như « NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ
CƯ » của Lý Thường Kiệt, « ĐOẠT SÁO CHƯƠNG DƯƠNG ĐỘ » của
Trần Quang Khải, « HOÀNH SÁO GIANG SƠN THẬP KỶ THU » của
Phạm Ngũ Lão, và cả vua Trần Thánh Tôn, sau khi đánh đuổi được giặc
Nguyên, cũng đã có 2 câu thơ khánh hỉ tài tình :
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
2
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
https://thuviensach.vn
Tất cả những lời thơ điêu luyện, ý tứ súc tích, hào khí ngất trời ấy,
chứng tỏ Hán học đã ăn sâu vào tâm não của từng lớp lãnh đạo Việt Nam.
Bộ BINH THƯ YẾU LƯỢC, HỊCH TƯỚNG SĨ của Hưng Đạo Vương xác
nhận thêm điều đó.
Đời Trần còn có những tay Khổng học uyên thâm như Mạc Đĩnh Chi,
Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Chu Văn An, Hồ
Tôn Thốc, Trần Nguyên Đán… Ngoài ra còn những bực Khoa Bảng xuất
thân đã chiếm những địa vị cao quí trong chính quyền và các nho sinh khắp
nước do chế độ giáo dục tự do đào tạo chờ ngày lều chổng đi thi mong ơn
mưa móc của triều đình, con đường xuất chính duy nhất dưới thời quân
chủ… Giới nho sĩ đã khá đầy đủ để hợp thành một đẳng cấp hưởng rất nhiều
ưu đãi của chế độ, ăn trên ngồi trước, cho nên họ triệt để trung thành và trở
nên công cụ của chính quyền.
Trong quyển « Xã hội Việt Nam » ông Lương Đức Thiệp viết : « Mất
hết độc lập về tư tưởng, tiêu mòn sinh lực trong mấy quyển Tứ thư, Ngũ
kinh, trong thể lệ bạo tàn của trường quy, đẳng cấp sĩ phu Việt Nam cũng bị
rút rỗng hết sinh khí. Bởi vậy, trải qua bao thế kỷ nghiền ngẫm tư tưởng của
cổ nhân mà đẳng cấp sĩ phu Việt Nam không ghi được một dấu tiến bộ nào
hay một trào lưu tư tưởng mạnh mẽ nào khác Trung Quốc cả. Chính sách
ngu dân của chế độ phong kiến đã có kết quả ; đẳng cấp sĩ phu Việt Nam
bảo thủ đã trở thành một trở lực lớn cho cuộc tiến hóa chung của dân tộc ».
Với cái uy danh của ông Trạng, ông Bảng nhãn, ông Thám Hoa, ông
Cử, ông Tú, với cái uy tín của các thầy Đồ, thượng tri thiên văn một cách
thô sơ, hạ thông địa lý một cách mập mờ, với cái học nhồi sọ trong mớ sách
cũ rích không hề thay đổi, chuyên ngâm hoa vịnh nguyệt bằng lối trích cú,
tầm chương, họ được nhân dân xem là những bực thức giả và dành cho sự
kính trọng thành khẩn.
Trong khi đó thì họ cấu kết với đẳng cấp quí tộc, dựng lên một bức
tường thành kiên cố để vừa bảo vệ một triều đại vững vàng, vừa bảo vệ
những ưu quyền mà họ được hưởng trong xã hội phong kiến, làm chướng
ngại vật trước mọi cải cách cần thiết cho quốc gia.
https://thuviensach.vn
Đáng cho ta căm giận hơn nữa, là khi chế độ đã mục nát, nhân dân
nguy khốn, nạn mất nước có thể xảy ra bất cứ lúc nào, một bực nhân tài xuất
chúng đứng ra lật đổ triều đại cũ, mang hết tâm tư cứu vãn đất nước, đem
quốc gia đến chỗ phồn thịnh, thì một số nho sĩ lại không từ bỏ một hành
động nào để phục hồi cơ nghiệp cho dòng họ mà sứ mạng lịch sử đã cáo
chung.
Một vài danh nho đã dùng thi tài trác tuyệt của mình đến cúi mọp trước
bệ rồng nhà Minh, dập đầu van lạy vua Minh sang chinh phạt họ Hồ, phục
vụ cho những ông vua nửa người nửa ngợm. Họ vô tâm và đốn mạt đến nổi
không nghĩ rằng khi nhà Minh xua quân sang thì mồ mã ông cha họ cũng
chẳng còn, đồng bào họ bị giết chóc, cướp phá, hãm hiếp, quê hương họ bị
dày xéo, chiếm cứ.
Ta thử đọc mấy vần thơ sau đây của danh nho Bùi bá Kỳ, kẻ mà sau
này cùng Trần thiêm Bình hướng dẫn quân Minh sang cướp nước ta. Bùi bá
Kỳ đã mọp trước bệ rồng của Minh Thành-Tổ khóc lạy dâng thơ :
Cô thần trung hiếu hiệu tư vi,
Bạt thiệp sơn xuyên thượng đế kỳ.
Túy thủ vương trì bàn huyết lệ,
3
Ngưỡng kỳ thánh chủ hướng vô si.
Dịch :
Tôi trung côi cút quyết ra tay,
Lặn suối trèo non mới tới đây.
Thềm ngọc nát đầu tan huyết lệ,
Ngữa mong thánh chúa cứu oan này.
Thật là nhục nhã. Giọng thơ Bá Kỳ còn hùng hồn hơn nữa :
Trần sự lăng di vị khả kỳ,
Hàm oan bảo hận hữu thiên tri.
Nam phương thần tử hoài trung nghĩa,
4
Thệ quốc tổn khu phạt Quí Ly.
Dịch :
https://thuviensach.vn
Chửa chắc họ Trần đến nỗi này,
Ngậm oan nuốt giận có trời hay.
Phận tôi Nam Việt ôm trung nghĩa,
Giết Quí Ly thề quyết xã thây.
Những ông « khuyễn nho » ấy chỉ biết trung nghĩa với cá nhân của một
vài kẻ nối dõi bệ rạc của nhà Trần, mà ngu si không biết rằng hành động của
họ sẽ trùm lên đầu họ hai tiếng « Việt gian », đem họa cho cả một dân tộc,
chủ nhân ông thật sự của giải đất mà họ tưởng là cơ nghiệp riêng của một
gia tộc này.
Họ ngu muội, vô trách nhiệm như vậy, tư cách của họ đáng phỉ nhổ như
vậy, nhưng những danh vị hảo, cái trí thức nông cạn, cái uy tín sĩ phu của họ
lại có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân, tạo ra cả một thứ nhân tâm sai
lạc, thiển cận.
Hồ Quí Lý đã thất bại vì cái « nhân tâm » xuất phát từ nền luân lý nho
giáo ấy !
https://thuviensach.vn
3. NHỮNG ÔNG VUA CUỐI TRIỀU
Vốn là con cháu của những bực đại anh hùng đã từng oanh liệt chận
bước tiến của một đạo quân bách chiến bách thắng của Hốt tất Liệt, một đạo
quân mà trước kia, dưới quyền lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn, đã tung vó
ngựa làm mưa làm gió suốt một vùng Trung Á, đến tận Ba Tư và Trung Bắc
Âu Châu, các ông vua cuối triều Trần lại bị hủ hóa, trở thành những con
người nhu nhược, ăn chơi phè phỡn, bỏ bê chính sự, gây sụp đổ cho cả một
triều đại đã có những thời kỳ sáng chói trong lịch sử dân tộc.
Triều Trần bắt đầu suy vong từ thời Vua Minh Tông (I3I4-I329) nhứt là
sau khi giết oan Huệ võ vương Trần Quốc Chân. Đến năm Ất Tỵ thì ông
nhường ngôi cho Thái tử Vượng, lui về làm Thái Thượng Hoàng theo tục lệ
nhà Trần.
Thái tử Vượng lên ngôi mới được mười tuổi, tức là vua Hiến Tông
(I329-I34I), nhưng quyền chính trong tay thượng hoàng. Suốt thời gian làm
vua, rồi làm Thái Thượng Hoàng, Minh Tông không làm được một công
cuộc gì đáng kể, chỉ an hưởng thái bình do tiền nhân để lại. Hiến Tông ngồi
trên ngai vàng được gần mười ba năm, nhưng lúc nào cũng lệ thuộc vào
Minh Tông. Đến năm tân tị thì ông mất, thọ được hai mươi ba tuổi.
Hiến Tông chưa kịp có con, nên Thượng Hoàng Minh Tông lập người
em tên Hạo lên ngôi, tức là vua Dụ Tông (I34I-I369). Từ năm I34I đến I357,
Minh Tông còn sống và tiếp tục tham dự việc triều chính. Mặc dầu không có
gì đặc sắc, và nạn đói đã xảy ra trong nhân dân vì mất mùa, thời kỳ Minh
Tông thay Dụ Tông trị nước cũng chưa xảy ra điều gì quá tồi tệ.
Triều Trần thật sự xuống dốc từ khi Thượng Hoàng qua đời (I358), rồi
các cựu thần như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn tiếp nối mất đi,
gian thần lộng hành trong triều, đến nỗi danh nho Chu Văn An phải dâng
thất trảm sớ xin chém bảy người quyền thần, nhưng Dụ Tông bỏ qua. Ông từ
quan về ẩn dật ở núi Chí Linh.
https://thuviensach.vn
Tự do, không người kiềm chế, can gián, Dụ Tông tha hồ rượu chè, trụy
lạc, xây cung điện, đào hồ, đắp núi, biến triều đình thành một sòng bạc, quán
rượu ; tổ chức yến tiệc, hát xướng linh đình náo nhiệt.
Vì vua và đình thần như vậy, nên bọn quan hầu của vua chúa xâm
chiếm quyền lợi, đất đai, tranh giành các nguồn sống của nhân dân, cho đến
cung nhân cũng làm quạt đưa ra bán bên ngoài. Giặc cướp nổi lên khắp nơi,
nạn đói hoành hành. Xã hội rối loạn, dân chúng lâm vào tình cảnh cơ cực.
Tình trạng đất nước thời bấy giờ vô cùng thê thảm.
Năm kỷ dậu (I369) Dụ Tông mất, không con nối ngôi. Triều đình định
lập Cung Định Vương là anh Dụ Tông lên làm vua, nhưng Hoàng thái hậu
nhứt định lập con nuôi của Cung Túc Vương là Dương Nhật Lễ. Nhật Lễ
giết Hoàng thái hậu và Cung Định Vương, định cải họ là Dương để chấm
dứt nhà Trần.
Tôn thất nhà Trần hội nhau, đem binh bắt Nhật Lễ, rước Cung Tĩnh
Vương lên ngôi, tức là vua Nghệ Tông (I370-I372).
Nghệ Tông là ông vua nhu nhược, mọi việc trong triều đều để cho Hồ
Quí Ly quyết đoán.
Năm Nhâm Tỵ (I372), Nghệ Tông truyền ngôi cho em là Thái tử Kính,
về ở phủ Thiên Tường làm Thái Thượng Hoàng.
Thái Tử Kính lên ngôi, tức là vua Duệ Tông (I374-I377) lập em họ Hồ
Quí Ly làm Hoàng hậu.
Năm Bính thìn (I376), quân Chiêm thành do vua Chiêm là Chế Bồng
Nga lãnh đạo, sang đánh phá ở Hóa Châu. Duệ Tông mang binh đi chinh
phạt, rồi từ trần lúc tiến quân gần đến thành Đồ Bàn (I377).
Thượng hoàng lập con vua Duệ Tông là Hiến lên ngôi, tức là vua Phế
Đế (I377-I378)
Tháng tám năm Mậu thìn (I388), vì thấy Thượng hoàng tin dùng Hồ
Quí Ly, Phế Đế mưu với các cận thần trừ họ Hồ, nhưng việc bại lộ, Phế Đế
bị Hồ Quí Ly ngầm cho người giết chết.
https://thuviensach.vn
Thượng hoàng Nghệ Tông lập con út của mình là Chiêu Định Vương
lên nối ngôi, tức là vua Thuận Tông (I388-I389).
Tháng chạp năm Giáp tuất (I394), Thượng hoàng mất ; trị vì được ba
năm, làm Thái Thượng Hoàng 27 năm, thọ 74 tuổi.
Nghệ Tông mất rồi, Quí Ly lên làm phụ chính Thái sư, vào ở hẳn trong
điện, cho quân vào xây thành Tây Đô ở động Yên tôn, Thanh Hóa. Đến năm
Bính tị (I396) Quí Ly bắt Thuận Tông phải dời kinh về Tây Đô. Qua tháng
ba năm sau, Quí Ly lập mưu ép Thuận Tông nhường ngôi cho con là Thái tử
An.
Thuận Tông nhường ngôi cho con, lúc bây giờ mới lên ba tuổi, tức là
Thiếu Đế (I398-I400), rồi đi tu tiên.
Hồ Quí Ly làm phụ chánh, xưng là Khâm Đức Hưng Liệt Đại Vương,
sai người giết Thuận Tông đi.
Đến tháng hai năm Canh Thìn (I400), Quý Li bỏ Thiếu Đế, tự lập mình
lên làm vua.
Nhà Trần làm vua nước Việt nam được I2 đời, tổng cộng I75 năm.
https://thuviensach.vn
4. KHI ÔNG HOÀNG MÊ ĐÀO HÁT BỘI
Trước khi Quý Ly xuất hiện trên chính trường, Trần triều cũng đã suýt
mất giang san về tay họ khác trong đường tơ kẻ tóc, do lỗi của một hôn quân
và một bà Thái hậu ngu xuẩn.
Kẻ hưởng ngôi nhà Trần lại là một người tồi tệ, dâm dật, trụy lạc và có
một nguồn gốc mơ hồ, dính dáng rất gần với lịch sử… hát bội !
Năm Thái Trí thứ I2 (Kỷ Dậu – I369) vua Dụ Tông qua đời vì bịnh
dương suy nên không có con nối dòng. Vợ vua Minh Tông là Hiến Từ thái
hậu nhứt định lập con nuôi của Cung Túc Vương (Vương cũng là con Minh
Tông như Dụ Tông) lên ngôi, trong khi triều đình định lập Cung Định
Vương là anh Dụ Tông.
Nguyên đầu niên hiệu Thiệu Bảo (I279-I284) đời Trần Nhân Tông,
quan quân ta đánh Nguyên, bắt được người hát chèo là Lý Nguyên Cát. Cát
hát rất hay, các con hầu, đầy tớ các nhà quyền thế, giàu có nước ta bấy giờ
tranh nhau học tập. Nguyên Cát diễn truyện cổ như tuồng Vương Mẫu hiến
bàn đào. Trong ban hát có I2 người mặc áo cẩm bào hoặc áo thêu, đánh
trống thổi sáo, giọng hát khi cao khi hạ, lúc bỗng lúc trầm, sự buồn vui đều
theo tuồng tích. Hát chèo, hát bội phát xuất từ đó (KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ
chính biên, quyển I0, tờ I5 a-b).
Theo Khâm Định việt sử, quyển I0, tờ 22a-b, Đại Việt Sử ký toàn thư,
quyển 7, tờ 29 a-b : trong ban hát có vợ một anh kép tên là Dương Khương ;
cô đào này đóng vai Tây Vương Mẫu. Cung Túc Vương Nguyên Dực (anh
Dụ Tông) mê sắc đẹp, lấy làm vợ. Người đào hát ấy đã có thai sẵn, sau sanh
Nhật Lễ, vì trong truyện Hiến bàn đào có ngày lễ Vương Mẫu dâng đào, nên
đặt tên Nhật Lễ.
Lên ngôi chưa được một năm, Nhật Lễ lộ dã tâm đánh thuốc độc người
ơn là Hiến Từ và định đổi họ Trần thành họ Dương. Ông vua này ngày đêm
đều say sưa dâm dật, vui chơi và chỉ thích những trò vui vặt. Tôn thất và
trăm quan đều thất vọng.
https://thuviensach.vn
Lúc ấy, các thân vương, công chúa nuôi trong nhà rất nhiều thủ hạ, lắm
gia nô. Thái tể Nguyên Trác tức Cung Tĩnh Vương cùng Thiên Ninh công
chúa và nhiều tôn thất đang đêm mang gia nô vào triều đình giết Nhật Lễ.
Hắn trèo tường núp dưới cầu trốn biệt. Khi Nguyên Trác và Thiên Ninh
công chúa kéo về thì trời đã sáng. Nhật Lễ về cung sai người tầm nả những
kẻ chủ mưu, bắt được I8 người tôn thất nhà Trần, trong số đó có Cung Tĩnh
Vương Nguyên Trác. Thiên Ninh công chúa trốn được, khóc bảo Cung Định
Vương Nguyên Phủ : « Thiên hạ của tổ tông nhà mình, sao nở bỏ cho người
khác ? Em hãy trốn đi mà tìm đường phục nghiệp Trần ! » Cung Định
Vương Nguyên Phủ có con gái gả cho Nhật Lễ nhưng cũng sợ vạ, trốn lên
Đà Giang, và ước ngầm với Cung Tuyên Vương Nguyên Kính, Trần Nguyên
Đán và công chúa Thiên Ninh họp nhau trên sông Đại Lại (thuộc tỉnh Thanh
Hóa) để khởi nghĩa.
Tôn thất và các quan dần dần trốn khỏi thành theo ông và khuyên ông
mau về dẹp loạn.
Tháng giêng năm Canh Tuất (I370), Cung Định Vương và các tôn thất,
trăm quan tiến quân về kinh thành. Đến Kiến Hưng (Nghĩa Hưng, thuộc tỉnh
Nam Định), ông lên ngôi, quần thần tôn hiệu là Thế Thiên Kiến Cực Thuận
Hiếu Hoàng Đế, tức là Nghệ Tông. Nghệ Tông giáng Nhật Lễ làm Hôn Đức
Công rồi giết đi, đặt niên hiệu Thiệu Khánh (I370).
Đọc đoạn sử này, chúng ta đã thấy rõ Trần triều đã bắt đầu thối nát.
Vua Dụ Tông là một hôn quân vô đạo làm cho triều chánh ngữa
nghiêng, nhân dân thống khổ, lòng người ly tán, anh ông là Cung Túc
Vương Nguyên Dực cũng chẳng hơn gì, mê đào hát, cướp vợ dân. Cả triều
đình, từ hoàng thân quốc thích đến bá quan văn võ đều nhu nhược để cho
một người đàn bà là vợ Minh Tông, Hiến Từ Thái hậu thao túng, quyết định
đại sự là lập vua.
Theo ông Trần Hàm Tân, thuộc trường Bác-cổ Hà Nội, tác giả quyển
TRUYỆN CỤ CHU VĂN AN thì bà Hiến Từ cũng chẳng phải là một người
đàn bà ngu muội. Đây là một chuyện nhỏ về bà Hiến Từ :
https://thuviensach.vn
Sau khi dâng THẤT TRẢM SỚ lên vua Dụ Tông vô hiệu, cụ Chu Văn
An từ quan về ở ẩn. Tuy vậy, cứ mỗi lần vào kỳ hội lớn, cụ cũng đến bái yết
Dụ Tông. Có lần Dụ Tông muốn ủy thác chính sự cho cụ, nhưng cụ từ chối.
Hiến Từ Thái hoàng Thái hậu (vì bà là vợ Minh Tông) bảo vua : « Kẻ sĩ
thanh tu kia, thiên tử đã không thể ép làm tôi được thì có thể nào đem chính
sự sử nỗi được người ? ». Vua khiến nội thần mang y phục ban cho. Cụ lạy
tạ lãnh ân tứ, nhưng rồi đem tặng cho người khác.
Xét người được như vậy, bà Hiến Từ nào phải là một phụ nữ tầm
thường. Thế mà chẳng hiểu vì sao bà lại đem thiên hạ nhà Trần trao cho một
người ngoại tộc bất xứng đến nỗi bị chính kẻ mà bà nâng đở lên địa vị tối
cao đánh thuốc độc chết !
Nếu Nhật Lễ là người tài trí, gian xảo hơn người thì cơ nghiệp nhà Trần
nào tới tay Hồ Quí Ly ? Và không sớm thì muộn Việt Nam cũng mất vào tay
quân Minh !
https://thuviensach.vn
5. ĐỐI NGOẠI
GIAO THIỆP VỚI TRUNG HOA
Thời ấy, nhà Nguyên bên Trung Hoa đã suy. Những vị anh hùng người
Hán như Chu Nguyên Chương, Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành, khởi
binh đánh đuổi quân Mông cổ xâm lược. Chu Nguyên Chương dấy nghiệp ở
đất Từ Châu (tỉnh An Huy), chiếm thành Kim Lăng, mười lăm năm dứt
được nhà Nguyên, thống nhất thiên hạ, dựng lên cơ nghiệp nhà Minh, hiệu
là Minh Thái Tổ.
Năm Mậu Thân (I368), Minh Thái Tổ sai sứ đưa thư sang dụ nước ta,
Dụ Tông sai quan Lễ bộ thị lang là Đào Văn Đích sang cống.
Việt Nam lúc ấy đã suy nhược, nhưng nhờ nhà Minh vừa định xong
thiên hạ, bận rộn sửa sang việc nước, chưa rãnh tay tính việc thôn tính Việt
Nam, bằng không, với tình thế quốc gia hồi ấy, Trần triều không thể nào
đương đầu nỗi với một cuộc xâm lăng từ Bắc phương.
Đến khi chính sự Trung hoa đã yên, nhà Minh bắt đầu dòm dõ nước ta,
thường sai sứ sang sách nhiễu. Năm Giáp Tỵ (I384) Minh Thái Tổ sai sứ
sang bắt Việt Nam phải cung cấp năm ngàn thạch lương cho quân Minh
đóng ở Vân Nam. Năm sau (I385) chúng lại cho sứ sang bắt ta phải đưa sang
Kim lăng 20 tăng nhân, cùng gỗ quí và lương thảo. Chủ ý của họ là dò dẫm
tình hình nước ta.
GIAO THIỆP VỚI CHIÊM THÀNH
Nỗi bận tâm đối ngoại của chánh quyền triều Trần là Chiêm Thành.
Dưới triều Dụ Tông, Chiêm Vương Chế A Nam qua đời. Con là Chế
Mộ, rể là Bồ Đề tranh nhau ngôi vua. Dân Chiêm ủng hộ Bồ Đề. Năm Nhâm
Thìn (I352) Chế Mộ chạy sang Việt Nam cầu cứu…
https://thuviensach.vn
Năm Quí Tỵ (I353), Dụ Tông cho quân đưa Chế Mộ về nước, nhưng
đến Cổ Lủy (thuộc Quảng Ngãi ngày nay) thì bị quân của Bồ Đề chận đánh.
Quân ta thua chạy về. Chế Mộ buồn rầu, chẳng bao lâu thì mất.
Từ đó, nhìn thấy thực lực của ta, quân Chiêm thường sang xâm phạm
bờ cõi.
Năm Đinh Tỵ (I367), Dụ Tông sai Trần Thế Hưng và Đỗ Tử Bình xuất
quân đánh Chiêm. Đến đất Chiêm động (thuộc phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng
Nam), bị phục binh Chiêm thành đánh bắt Trần Thế Hưng, Đỗ Tử Bình phải
lui quân.
Trong khoảng I3 năm mà hai lần thua trận, nước ta mất hết uy tín đối
với Chiêm thành, nên năm Mậu Thân (I368), Chiêm cho sứ sang đòi đất Hóa
châu. Vua Chiêm lúc ấy là Chế Bồng Nga là một vị anh hùng, trị nước
nghiêm minh, dụng binh tài giỏi, chuyên dùng voi ra trận. Chế Bồng Nga
xua quân đánh phá tận thành Thăng Long mấy lần, làm vua quan nhà Trần
bao phen kinh sợ.
Năm Canh Tuất (I370), khi tôn thất nhà Trần giết xong Nhật Lễ, lập
Nghệ Tông, mẹ Nhật Lễ chạy sang Chiêm thành xin Chế Bồng Nga can
thiệp : Nhân cơ hội ấy, Chiêm vương tiến quân tận Thăng long, đốt sạch
cung điện, vơ vét báu vật, bắt đàn bà con gái mang về Chiêm thành. Nhân
dân ta vô cùng phẩn uất.
Năm Bính Thìn (I376), vì Chiêm quân sang phá khuấy ở Hóa Châu,
Duệ Tông tức giận chuẩn bị chinh phạt…
Năm sau là Đinh Tỵ (I377), Duệ Tông thân chinh cùng Hồ Quí Ly phạt
Chiêm. Đến gần thành Đồ bàn bị quân Chiêm vây đánh, Duệ Tông tử trận,
Hồ Quí Ly phải rút quân về.
Một tháng sau, quân Chiêm sang cướp phá Thăng Long, không ai
chống nổi.
Tháng năm năm Mậu Ngọ (I378), quân Chiêm lại sang đánh Nghệ An
rồi cướp phá Thăng Long.
https://thuviensach.vn
Năm Canh Thân (I380), chúng lại đánh phá Thanh Hóa, Nghệ An,
nhưng lần này bị Hồ Quí Ly đánh đuổi được.
Năm Nhâm Tuất (I832), chúng sang đánh cướp ở Thanh Hóa, bị Hồ
Quí Ly cùng tướng Nguyễn Đa Phương đánh lui.
Sau hai trận này, quân thế Việt Nam hơi vững, nên tháng giêng năm
Quí Hợi (I383), Thượng Hoàng sai Quí Ly mang chiến thuyền phạt Chiêm,
nhưng vào tới cửa Nương Loan (nay là huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà tĩnh) gặp bão
to, nhiều thuyền bị vỡ và đắm, quân ta phải rút về.
Qua tháng sau, Chế Bồng Nga cùng tướng La Khải mang quân sang
đánh ở Quảng Oai. Thượng Hoàng sai tướng Mật Ôn ra giữ châu Tam Kỳ,
thuộc địa hạt Quốc Oai, nhưng bị Chiêm đánh bắt. Thượng Hoàng Nghệ
Tông sợ hãi, cùng với vua là Phế đế chạy sang Đông Ngạn ẩn náu, chờ giặc
lui mới dám trở về kinh đô.
Năm Kỷ Tỵ (I389), Chế Bồng Nga dẫn quân đánh Thanh Hóa. Hồ Quí
Ly vâng lịnh vua đem binh ngăn chống ở làng Cổ Vô, giữ được hai mươi
ngày rồi bị phục binh Chiêm giết hại binh ta rất nhiều. Hồ Quí Ly phải chạy
về kinh, tướng Nguyễn Đa Phương đang đêm rút quân về.
Qua tháng mười một, quân Chiêm tiến vào sông Hoàng Giang không
tìm được chỗ đóng quân thuận tiện, phải lui về đóng ở Hải Triều (thuộc địa
phận Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình).
Tháng Giêng Canh Ngọ (I390), Chế Bồng Nga dẫn hơn I00 chiến
thuyền đến gần địa điểm đóng quân của ta để dò xét trận thế. Một gia nhân
của Chế Bồng Nga phạm tội chết trốn sang bên ta chỉ rõ thuyền họ Chế.
Khát Chân truyền tập trung hỏa lực bắn vào thuyền ấy, giết Chiêm Vương
tại trận, rồi xua quân tấn công. Quân Chiêm tan chạy. Khát Chân cho cắt đầu
chúa Chiêm về dâng vua.
Tướng Chiêm La Khải hỏa táng xác Chế Bồng Nga rồi thu quân về
nước đoạt luôn ngôi vua. Từ đó, tạm yên về mặt Chiêm.
https://thuviensach.vn
6. TÌNH CẢNH KHỐN ĐỐN CỦA NHÂN DÂN
Dưới thời phong kiến, thường dân – Nông, Công, Thương – là đẳng cấp
sản xuất trong nước, phải nuôi dưỡng đẳng cấp quí tộc, những ông hoàng, bà
chúa, các bực công hầu, ăn sung mặc sướng, tôi tớ đầy dinh thự, và cả đẳng
cấp nho sĩ ăn trên ngồi trước, chuyên ngâm thơ vịnh nguyệt, đờn ca, xướng
hát, cờ bạc vui chơi… Họ bị khinh khi, bạc đãi, sách nhiễu không ngớt. Gặp
vua sáng, tôi hiền thì còn khá, vào những thời hôn quân vô đạo, quan lại
tham nhũng thì nỗi cơ cực không biết đến đâu.
Đã vậy mà còn phải đóng góp để cung phụng cho nước Trung hoa rộng
lớn dưới hình thức cống sứ, nào người vàng, người bạc, nào những vật trân
quí như châu báu, ngà voi, kỳ nam cùng lương thảo hàng năm cả muôn
thạch.
Đó là thời bình.
Vào thời loạn, đẳng cấp sản xuất còn phải nuôi thêm mấy trăm ngàn
quân lính và chịu chi phí chiến tranh, lại bị quân giặc cướp bóc, hãm hiếp vợ
con, lùa trâu bắt người mang đi, đốt nhà cửa, chà đạp hoa mầu.
Những thảm cảnh ấy, nhân dân dưới các triều vua cuối đời Trần đã phải
gánh đủ.
Theo chính sử, từ năm Đại trị nguyên niên (I358) trở đi, sau khi
Thượng hoàng Minh Tông qua đời, vua Dụ Tông chơi bời trác táng, phung
phí công quĩ vào việc đào hồ đắp núi, tổ chức cờ bạc trong cung, đánh một
tiếng bạc hàng 300 đồng vàng, tiệc tùng, hát xướng mỗi đêm. Lẽ tất nhiên là
nhân dân phải thắt lưng buộc bụng đóng góp thêm cho vua chúa, công hầu,
khanh tướng vui chơi cho thỏa thích. Vua quan như vậy nên bọn quan hầu
của nhóm quí tộc chiếm cả bãi sông Tô lịch là đất trồng rau của dân để làm
của riêng. Quan lại khắp nơi thi nhau tranh giành nguồn lợi kinh tế của đại
chúng, gây cảnh đói khổ cho giới cần lao.
https://thuviensach.vn
Vua quan loạn như thế, nên bọn bất lương nổi lên cướp phá nhân dân,
làm cho những người không tự vệ phải khốn đốn khổ sở.
Chánh quyền suy nhược nên tiểu quốc như ...
 





