Học liệu điện tử

Video - Thí nghiệm thực hành

Thống kê bạn đọc

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    9456fe40364d9167df75ae7b1c785753.jpg Sodotuduytoan9chuong1hinhhoc2.png Maxresdefault_1.jpg

    Liên thông thư viện

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NINH PHONG - NINH BÌNH💕💕

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Điên Biên Phủ cuộc đối đầu lịch sử mà nước Mĩ muốn quên đi

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Huy Lượng
    Ngày gửi: 16h:35' 01-07-2025
    Dung lượng: 759.5 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    SƠ ĐỒ CỨ ĐIỂM ĐIỆN BIÊN
    PHỦ

    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    LỜI NÓI ĐẦU
    Trận đánh Điện Biên Phủ, trong đó cộng sản lãnh đạo các lực lượng Việt
    Minh đã đè bẹp các đơn vị của quân đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương,
    sánh vai với các trận Agincourt, Waterloo và Gettysburg là một trong những
    trận giao tranh quân sự vĩ đại trong lịch sử. Điều đó đồng nghĩa với việc kết
    thúc chế độ thực dân đổ nát của Pháp ở châu Á và cũng là khi không ai thấy
    trước được khả năng dọn đường cho sự can thiệp của quân Mỹ vào khu vực
    này nhiều năm sau đó. Vì thế đó là một giai đoạn quan trọng gián tiếp mở
    màn cho một tiến trình đã gây ra cho Mỹ những hậu quả sâu sắc và kéo dài.
    Cho tới ngày nay, kinh nghiệm bi đát về Việt Nam vẫn còn ám ảnh người
    Mỹ khi họ dự tính tới các ưu thế toàn cầu của quốc gia.
    Không người Mỹ nào có phẩm chất tốt hơn Howard R. Simpson để nói về
    câu chuyện Điện Biên Phủ và ý nghĩa của nó. Anh ta không chỉ tới thăm
    chiến trường lúc đó mà còn là một thành viên của phái đoàn ngoại giao Mỹ
    ở Đông Dương, chứng kiến tình trạng rối ren của các sự kiện đã dẫn tới
    cuộc đụng độ này. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, vì những quan sát đầu
    tiên chưa đủ, anh đã quay lại Pháp và Việt Nam để nghiên cứu thêm qua các
    cuộc phỏng vấn và các tài liệu sẵn có. Ngoài ra, đây còn được coi là khả
    năng tự thuật của anh ta. Kết qủa là một cuốn sách đáng tin cậy cũng như
    đáng để đọc và chắc chắn là một tác phẩm kinh điển về đề tài này đã ra đời.
    Như Simpson khẳng định, lẽ ra Pháp không thất bại ở Điện Biên Phủ nhưng
    vì cuộc đấu tranh chống lại Việt Minh đã kéo dài 8 năm và người Pháp đã
    suy yếu trước những nỗ lực không hiệu quả nên đã đầu độc xã hội và chia
    rẽ chính phủ của họ. Chỉ huy Pháp, Tướng Henri Navarre đã tính toán sai
    lầm. Ông gạt bỏ các báo cáo tình báo không phù hợp với những phán đoán
    của ông, như một bản nghiên cứu về cuộc chiến tranh của Pháp của một
    trường đại học cho biết mọi việc đều được thực hiện trên cơ sở những ý

    https://thuviensach.vn

    kiến đã có sẵn của ông. Ông không tin vào đối thủ của mình, Tướng Võ
    Nguyên Giáp với khả năng tập hợp hỏa lực cần thiết để tấn công quân đồn
    trú của Pháp, lại có thể thực hiện hành động một cách chính xác đến như
    vậy.
    Tướng Giáp đã chuẩn bị cho đợt thử sức cuối cùng hàng tháng trời. Giống
    như những đàn kiến, Việt Minh đi bộ, đẩy xe thồ qua các khu rừng để tới
    nơi đóng quân, chất lên xe mọi thứ từ vũ khí, đạn dược tới những bao gạo
    khổng lồ phải được đưa vào trong những vùng hẻo lánh. Với sức mạnh siêu
    nhân, họ đã đẩy được những khẩu đại bác lên các sườn núi, tới các đỉnh cao
    có thể quan sát được quân Pháp – những người đã ngốc nghếch tự triển khai
    quân trong một vùng thung lũng rộng lớn với lý lẽ rằng, họ phải bảo vệ
    tuyến đường sang Lào. Tướng Giáp trả lời tôi khi ông nói về trận đánh
    trong một cuộc phỏng vấn ở Hà Nội tháng 3 năm 1990: “Thật là khó, rất
    khó, chỉ có động viên khích lệ binh lính mà có thể thực hiện đuợc một sự
    nghiệp vĩ đại đến như vậy”.
    Cả Pháp và Việt Minh đang chạy đua chống lại một điểm chết (giới hạn
    không được vượt qua). Một cuộc họp quốc tế ở Geneve đã bắt đầu sớm hơn,
    có kế hoạch giải quyết vấn đề Đông Dương vào ngày 7 tháng 5 và mọi
    người đều biết, là Trưởng đoàn đại biểu Mỹ, Tướng Walter Bedell Smith
    nhận xét: “Các ngài không giành được trên bàn đàm phán những gì các ngài
    đã đánh mất ngoài chiến trường”.
    Mặc dù chạy theo thời gian, song Tướng Giáp vẫn thận trọng. Không tán
    thành đề nghị của các cố vấn Trung Quốc, những người luôn thúc giục ông
    tiến hành một cuộc tấn công vào chính diện, ông ra lệnh cho binh lính đào
    các đường hầm tới các vị trí của Pháp. Họ đào trong 8 tuần tới tận trưa ngày
    13 tháng 3. Bị các pháo lớn của Việt Minh tấn công, mục tiêu đầu tiên của
    Pháp sụp đổ nhanh chóng, ngày hôm sau là mục tiêu khác. Trước đó, Đại tá
    Charles Piroth, chỉ huy lục lượng pháo binh của Pháp đã hứa với Navarre
    rằng, anh ta có thể dễ dàng làm câm họng pháo của đối phương. Nhưng giờ

    https://thuviensach.vn

    đây, anh ta bị hạ nhục. Rạng sáng ngày 15 tháng 3, anh ta rút chốt an toàn
    của một qủa lựu đạn và tự sát. Anh ta nói đêm hôm trước rằng: “Tôi hoàn
    toàn mất hết danh dự”.
    Nước Pháp đã không có những công dân la hét đòi hoà bình. Người ta
    thường quên rằng sau thắng lợi, những người Cộng sản Việt Nam có thể
    công bố với toàn thể người dân Việt Nam là không có Liên Xô hay Trung
    Quốc gây áp lực buộc họ phải chấp nhận một sự chia cắt trong lúc chờ các
    cuộc bầu cử vì những lý do riêng của họ. Nhưng được sự tán thành của
    chính quyền Eisenhower, chính quyền miền Nam Việt Nam đã cự tuyệt tổng
    tuyển cử thì cả Moscow và Bắc Kinh đều phản đối - một dấu hiệu cho thấy
    cả hai đều hi vọng cải thiện mối quan hệ của họ với phương Tây.
    Hà Nội không từ bỏ hi vọng thống nhất Việt Nam. Vì thế một cuộc chiến
    tranh mới bắt đầu được tăng tốc và cuối cùng nó đã nhấn chìm nước Mỹ.
    Không có trận đánh nào trong cuộc chiến tranh của Mỹ có thể sánh ngang
    được với Điện Biên Phủ cho dù Tổng thống Lyndon B.Johnson, Tướng
    Westmoreland, và những người khác đã nhận thức sai lầm về sự tái diễn của
    trận đánh ở Khe Sanh đầu năm 1968. Trận đánh này là một trận nghi binh
    của Tướng Giáp nhằm lôi kéo quân Mỹ ra xa các thành phố ven biển để có
    thể tiến hành cuộc tổng tấn công Tết. Tướng Giáp biết rằng người Mỹ và
    người Pháp hoàn toàn khác nhau, rằng ông ta không đủ mạch để có thể
    thách thức với sức mạnh ồ ạt của quân Mỹ trong một trận đối đầu trục tiếp.
    Lần này, Tướng Giáp đã theo đuổi một chiến lược không giống với chiến
    lược đã dùng để chống lại người Pháp. Ông tiến hành một cuộc chiến tranh
    tiêu hao và tin rằng dần dần sẽ làm suy sụp được ý chí tiếp tục chiến tranh
    của Mỹ. Mối quan tâm chính của ông là thắng lợi và ít thương vong. Tôi đã
    hỏi ông trong cuộc nói chuyện ở Hà Nội: “Ngài sẽ tiếp tục chiến đấu chống
    lại Mỹ trong bao lâu?”. Ông trả lời không chút do dự: “20 năm nữa, có thể
    hàng trăm năm miễn là giành được thắng lợi và ít tổn thất”.

    https://thuviensach.vn

    Vì thế, Mỹ cũng như Pháp phải chống lại một kẻ thù mà luôn coi sự nghiệp
    đấu tranh của họ là thiêng liêng và sẵn sàng hi sinh để giành được mục tiêu.
    Cần rút ra bài học đó trước khi quá muộn.
    STANLEY KARNOW (1)

    https://thuviensach.vn

    GIỚI THIỆU
    Chiến tranh Đông Dương (1946-1954) là một cuộc đấu tranh lâu dài và đẫm
    máu. bằng việc đưa một quân đội thử nghiệm cửa thực dân Pháp vào đọ sức
    với Việt Minh, một quân đội nhân dân của Cộng sản luôn tận trung với việc
    giải phóng Việt Nam khỏi ách thống trị của Pháp. Trận đánh quyết định là
    trận đánh năm 1954 ở Điện Biên Phủ, một làng miền núi nhỏ thuộc đất đai
    của người Thái ở phía Tây Bắc Việt Nam.
    Điện Biên Phủ không phải là một cuộc giao chiến lớn theo các điều khoản
    quy ước nhưng đó là một cuộc đấu trí quân sự quan trọng và là một thế giới
    vĩ mô của những va chạm chính trị - quân sự quốc tế nổi lên sau Thế chiến
    II. Đó còn là nơi thể hiện lòng dũng cảm, sự đánh giá sai lầm, sự ngoan cố
    và thất bại. Điều đó đã được báo trước cho quân đồn trú từ trước khi trận
    tấn công cuối cùng diễn ra. Khói bụi của chiến trường che lấp đi những sai
    lầm về chiến thuật cũng góp một phần không nhỏ vào sự thất bại này. Cuộc
    giao tranh quân sự đã làm thay đổi bộ mặt của Đông Nam Á và được coi
    như một điềm báo đối với những trận đánh tốn kém mà lực lượng Mỹ sau
    này sẽ thực hiện ở các khu rừng và cánh đồng lúa của miền Nam Việt Nam.
    Lần đầu tiên tôi tới Điện Biên Phủ vào cuối tháng 11 năm 1953 trên chiếc
    máy bay vận tải “Dakota” C-47 của không quân Pháp hạ cánh xuống đường
    băng mới sửa chữa sau khi bị đóng cửa trong một chiến dịch không quân
    ngày 20 tháng 11. Ba tiểu đoàn dù của Pháp đã bảo vệ khu làng và đường
    băng cho dù có sự kháng cự mạnh của một đơn vị đồn trú Việt Minh được
    tăng cường. Tôi đã theo dõi cuộc xung đột Đông Dương từ tháng 2 năm
    1952 khi là phóng viên chiến tranh thuộc một Hãng Thông tin của Mỹ
    (USIA) và đã biết một số sĩ quan, binh lính ở Điện Biên Phủ từ các chiến
    dịch trước ở Bắc Việt và Lào. Trong thời gian ở Điện Biên Phủ, tôi quan sát
    được công việc xây dựng căn cứ và sự có mặt của quân tăng cường, tới

    https://thuviensach.vn

    thăm các vị trí công sự của các tiểu đoàn thu thập thông tin từ các sĩ quan
    cao cấp ở bốt chỉ huy cùng với Thiếu tá Marcel Bigeard và tiểu đoàn dù số
    6 đi tuần tra thăm dò các đơn vị Việt Minh ở các khu đồi xung quanh. Vào
    giữa tháng 12, các lực lượng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phải nằm
    im trong công sự không dám liều mạng ra xa thung lũng nếu không liên lạc
    được với quân chính quy Việt Minh. Trước khi tôi rời Điện Biên Phủ, một
    sĩ quan viễn chinh khẳng định: “Lần này Việt Minh sẽ vào đông, đó sẽ là
    một cuộc chiến thực sự”. Tôi đang trên đường từ San Francisco về nhà ngày
    7 tháng 5 năm 1954 thì được tin Điện Biên Phủ bị thất bại sau một trận bao
    vây 57 ngày. Dẫu sao những người am hiểu tình hình vẫn rất khó khăn khi
    đánh giá về phạm vi thắng lợi của Cộng sản.
    Hiệp định Geneve tháng 7 năm 1954 đã chấm dứt cuộc chiến tranh và
    người Pháp đang chuẩn bị rời Đông Dương thì tôi quay trở lại Sài Gòn.
    Nhiều bạn bè bị bắt ở Điện Biên Phủ đã được Việt Minh phóng thích. Nhiều
    người khác đã chết trên đường hành quân dài ngày hoặc trong các trại tù.
    Những người sống sót kể lại sự thật về trận đánh.
    Tôi rời Việt Nam năm 1955, được giao nhiệm vụ quay lại Sài Gòn năm
    1964 làm cố vấn cho Thủ tướng và đã thăm lại đất nước này trong chuyến
    công tác ngắn ngày năm 1971. Năm 1991 tôi trở lại Việt Nam, với tư cách
    là một nhà báo, được phép thực hiện một cuộc phỏng vấn dài với Đại tướng
    Giáp và thảo luận về chiến tranh Đông Dương, về Điện Biên Phủ với các
    cựu chiến binh Việt Minh. Gần đây hơn, tôi được tiếp cận với những tài liệu
    về Điện Biên Phủ trong các kho lưu trữ của Quân đội Pháp. Sở chỉ huy
    quân Viễn chinh nước ngoài ở Aubagne cho phép tôi sao chụp những thống
    kê cá nhân về trận đánh này của các lính Lê dương sau khi bị bắt trở về.
    Đáng giá nhất là các cuộc phỏng vấn những người sống sót sau trận Điện
    Biên Phủ. Mặc dù nhiều năm đã trôi qua, cuộc chiến vẫn khắc sâu vào ký
    ức của những người tham chiến. Một số đã chết trong thời gian đó hoặc
    không thể tiếp cận được. Tuy nhiên, nhờ vào những cuộc tiếp xúc riêng, tôi

    https://thuviensach.vn

    đã gặp được một bộ phận tiêu biểu những người đã phải chịu đựng cảnh bao
    vây. Những người khác hợp tác bằng cách điền vào mẫu câu hỏi trắc
    nghiệm để giải thích phần việc của họ trong cuộc chiến này.
    Mùa xuân năm 1992, tôi đang ăn trưa ở Montparnasse với Đại tá Bùi Tín,
    một cựu chiến binh Việt Minh ở Điện Biên Phủ. Ông nhớ lại các trận đánh
    trước đây. Và nói với tôi: “Điện Biên Phủ là sự tái diễn hoàn hảo cuộc chiến
    tranh của Việt Nam với người Mỹ. Tất cả chỉ huy của các quân đoàn, sư
    đoàn trong cuộc chiến với Mỹ đều đã chiến đấu ở Điện Biên Phủ”.
    Nếu Điện Biên Phủ đã dạy cho Việt Minh - những người tiên phong của
    quân đội Bắc Việt và Việt Cộng - những bài học có giá trị, thì những nhà
    vạch kế hoạch quân sự Mỹ lại không thể có được.
    Mỹ đã ủng hộ cho nỗ lực của Pháp bằng những vũ khí, trang thiết bị và
    nguồn tài chính khổng lồ nhằm cản trở sự thống trị của Cộng sản ở Đông
    Nam Á. Các nhà ngoại giao sĩ quan quân sự Mỹ đã và đang theo dõi cuộc
    chiến tranh Đông Dương, Nhóm trợ lý cố vấn quân sự Mỹ (MAAG) đã và
    đang gián tiếp tham gia như những cố vấn không tham chiến. Khi cuộc
    chiến ở Điện Biên Phủ mở rộng, các sĩ quan Mỹ đã tới thăm các pháo đài
    trên núi như những nhà quan sát, những chỉ huy cao cấp của Mỹ từ Hawaii
    và Tokyo đã tới Sài Gòn và Hà Nội để bàn về khả năng can thiệp trực tiếp
    của Mỹ dưới sự ủng hộ của Pháp. Tiếp theo sự thất bại của Pháp và mặc
    cho chính quyền Mỹ đã ngay lập tức can thiệp trực tiếp vào Việt Nam thì
    các nhà vạch kế hoạch và chiến lược Mỹ đã làm ngơ trước những kinh
    nghiệm của Pháp. Pháp đã thua. Chúng tôi với sức mạnh công nghệ vượt
    trội sẽ thắng. Tinh thần hăng hái và triết lý khảng khái của chúng tôi đã che
    lấp đi những bài học của lịch sử.
    Tháng 1 năm 1968, 40.000 quân chính quy Bắc Việt đã bao vây đơn vị quân
    đồn trú gồm 6.000 quân thuộc quân đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ tại Khe
    Sanh. Các cứ điểm trên đồi gần biên giới Lào và phía dưới khu phi quân sự
    chia cách miền Bắc và miền Nam Việt Nam cũng đáng lo ngại giống như

    https://thuviensach.vn

    Điện Biên Phủ. Chiến dịch bao vây căn cứ của Mỹ ở Khe Sanh 2 tháng rưỡi
    là sự thất bại bao trùm lên Pháp, gây ra nỗi buồn phiền cho Tổng thống
    Johnson và làm nảy sinh các vấn đề phức tạp trong tiến trình chiến tranh
    của Tướng Westmoreland. Cuối cùng, pháo binh, máy bay B-52 và sự
    ngoan cường của lính thủy đánh bộ đã phá vỡ được vòng vây. Gần 500 lính
    thủy đánh bộ bị chết ở Khe Sanh, quân đội Bắc Việt ước tính hy sinh gần
    10.000 người. Lực lượng của Tướng Giáp bị thiệt hại nặng, các sĩ quan tình
    báo quân sự Mỹ công bố thắng lợi nhưng thực tế tình hình ở Khe Sanh
    thường xuyên gây bất lợi cho phía Mỹ. Mãi tới sau này mới có sự quan tâm
    trở lại với Điện Biên Phủ và với cuộc chiến tranh Đông Dương nhưng sự
    quan tâm đó cũng dần bị mờ đi như chính cuộc chiến tranh tiêu hao của
    chúng tôi.
    Những bài học có giá trị liên quan tới kinh nghiệm riêng của chúng tôi về
    Việt Nam mà chúng tôi đã cố tình lờ đi là gì? Tôi đã liệt kê ra một số bài
    học được coi là quan trọng nhất.
    1. Đánh giá thấp các đơn vị không chính quy hoặc lực lượng du kích và lực
    lượng chính quy là một sai lầm cơ bản.
    Tư lệnh Pháp và nhiều sĩ quan tham mưu ở các sở chỉ huy khác nhau không
    thừa nhận giá trị thực của các sư đoàn chính quy, quân địa phương, quân tự
    vệ làng xã có mặt ở mọi nơi. Quân Viễn chinh Pháp được đào tạo và điều
    hành theo các chuẩn mực của châu Âu. Chỉ có các chỉ huy chiến trường, các
    sĩ quan tiểu đoàn - đại đội phổ thông, những người lính có kinh nghiệm
    chiến đấu nhiều năm ở Đông Dương, nếu miễn cưỡng mới bày tỏ mối quan
    tâm thường xuyên tới Việt Minh.
    Điện Biên Phủ là một ví dụ điển hình về việc làm thế nào mà một giấc mơ
    quân sự có thể vượt qua được thực tế bằng những kết quả bi đát. Người ta
    nói khả năng pháo binh của Việt Minh là hạn chế. Tư lệnh Pháp không thể
    ngờ rằng liệu Tướng Giáp có thể vận chuyển được các loại súng ống qua
    các cánh rừng. Nếu ông ta làm việc này thì Việt Minh có thể bị tiêu diệt bởi

    https://thuviensach.vn

    hoả lực phản pháo và tấn công bằng không quân của Pháp trước khi họ có
    thể gây ra bất cứ sự thiệt hại nào. Nhưng pháo binh của Tướng Giáp chẳng
    hề bị hạn chế. Ông ta đã chuyển súng ống qua rừng, hoả lực phản pháo kích
    và các đợt tấn công bằng không quân của Pháp bị thất bại thảm hại. Hơn
    nữa Pháp còn đánh giá thấp khả năng hậu cần của đối phương, khả năng
    chịu đựng về mặt tinh thần cũng như sự ngoan cường của binh lính, và
    chuyên môn cao về chiến lược, chiến thuật của phòng tham mưu Việt Minh.
    Thái độ tương tự đối với Bắc Việt, Việt Cộng và những khác nhau tương tự
    về quan điểm giữa những người vạch kế hoạch và những người chỉ huy
    chiến đấu thường được tái diễn vào cuối những năm 60 và đầu những năm
    70. Nhưng lần này, những người điều hành là người Mỹ.
    2. Qúa phụ thuộc vào sự hỗ trợ của không quân có thể dẫn tới thảm hoạ
    trước một chiến dịch kiểu du kích trong địa hình phức tạp hoặc trong những
    điều kiện bất lợi.
    Bất chấp những cảnh báo từ phía các tướng lĩnh thuộc lực lượng không
    quân, Tư lệnh Pháp vẫn tiến hành bố trí một pháo đài lớn trong một vùng
    núi tách biệt mà sẽ buộc phải cung cấp lương thực và tăng cường quân bằng
    không quân trên những đoạn đường khá xa. Có lần pháo binh của đối
    phương đã làm vô hiệu hoá đường băng và tất cả nguồn cung cấp phải phân
    phát bằng dù và dưới làn hỏa lực chống tăng dày đặc của đối phương. Việt
    Minh có đồng minh thường trực là thời tiết. Những đợt mưa phùn, mưa rào
    lớn, sương mù dày đặc ở miền Bắc đã phá hủy và cản trở các đợt cung cấp
    và các đợt không kích của Pháp. Núi rừng yểm hộ các sư đoàn và các ụ
    súng khỏi sự quan sát của các máy bay ném bom. Những cam kết của lực
    lượng không quân Pháp không bao giờ cho ra những kết quả như mong đợi.
    Ngược lại, thực tế này đã tạo ra một tác động tâm lý tiêu cực tới lực lượng
    bộ binh, những người đã phải học để dựa vào sự ủng hộ có hiệu quả của
    không quan ở vùng đồng bằng và rộng hơn ra cả vùng đồng bằng Bắc Bộ.
    Xác định mục tiêu ở các vùng núi là rất khó khăn vì vậy quyết định chớp

    https://thuviensach.vn

    nhoáng của phi công xem liệu một khu làng là bạn, là thù hay là vùng đối
    phương tạm chiếm có thể sẽ dẫn tới bi kịch.
    Rõ ràng khả năng không quân của Pháp ở Đông Dương là hạn chế so với
    việc triển khai ồ ạt máy bay của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
    Những lại một lần nữa cho dù tốn nhiều bom đạn và vũ khí nhưng kết quả
    hạn chế và tổn thất lớn. Trong một cuộc chiến tranh mà thắng hay thua ở
    các làng, xóm của miền Nam Việt Nam, nơi lòng trung thành và sự hợp tác
    của những người nông dân là điều cơ bản để dẫn tới sự thành công, thì bom
    đạn lại làm cho người dân phải xa lánh và đi tới chỗ tăng cường ủng hộ cho
    Việt Cộng mặc dù Mỹ có ưu thế hoàn toàn về không quân. Đường mòn Hồ
    Chí Minh cũng làm theo mẫu các tuyến đường của Việt Minh tới Điện Biên
    Phủ, vẫn tiếp tục vận chuyển quân chính quy Bắc Việt, vũ khí, lương thực
    và thậm chí xe tăng vào miền Nam Việt Nam trong suốt cuộc chiến tranh.
    3. Trận đánh này là sự thể hiện rõ ràng tính linh hoạt của một đối phương
    là du kích và khả năng thay đổi các biện pháp cho phù hợp với tình hình
    chiến thuật cụ thể của họ.
    Tướng Giáp coi “cuộc chiến tranh nhân dân của ông như một sự kết hợp,
    trong đó quân chính quy, quân địa phương và tự vệ hoạt động riêng rẽ hoặc
    kết hợp để giành một mục tiêu chung”. Trong một cuộc phỏng vấn tại thành
    phố Hồ Chí Minh năm 1991, Tướng Giáp nói với tôi rằng: “Chiến tranh
    nhân dân” không chỉ có nghĩa là các hoạt động của du kích mà hơn thế nữa
    còn bao quát mọi việc từ hành động của một đơn vị nhỏ tới hành động của
    toàn quân”. Ông phản đối sự biện minh của tôi nhằm tách các sư đoàn chính
    quy khỏi các lực lượng du kích và nói: “Lính chính quy đều chiến đấu tốt
    như những người du kích, thích ứng với những thay đổi khi được chuyển
    vào các đơn vị du kích”.
    Tính linh hoạt tương tự nêu ra trong đoạn trích được thể hiện rất sớm trong
    trận bao vây Điện Biên Phủ khi Tướng Giáp huỷ bỏ một cuộc tấn công lớn.
    Pháo binh và bộ binh đã vào vị trí, tinh thần binh lính đã chuẩn bị sẵn sàng

    https://thuviensach.vn

    cho một đợt tấn công lớn thì nhận được lệnh rút ra. Một cựu giáo viên phổ
    thông, giờ là nhà chiến thuật đã tính toán tới những thương vong mà anh ta
    phải chịu đựng trong các cuộc tấn công vào chính diện, sức mạnh của quân
    đồn trú được tăng cường của Pháp và việc mở rộng các pháo đài mới trước
    khi quyết định rằng sự mạo hiểm này là quá lớn. Thay vào đó anh ta huy
    động hàng nghìn chiếc xẻng, và Việt Minh bắt đầu đào những giao thông
    hào chằng chịt dẫn tới vành đai phía ngoài của các khu căn cứ của Pháp.
    4. Cảnh giác trước sự khắc nghiệt của môi trường nhiệt đới.
    Người ta nói rằng rừng là trung hoà. Thực tế, nó vẫn có sự thiên lệch.
    Những khu rừng núi quanh Điện Biên Phủ đều khó khăn với cả hai phía lực
    lượng Việt Minh và lực lượng Pháp. Nhưng lính trẻ của Việt Minh luôn là
    những người sống sót. Dù cho người thành phố đã phải chịu đựng những
    căn bệnh địa phương, những gian khổ đôi khi còn có tình trạng kém dinh
    dưỡng chung ở khu vực miền Bắc, Việt Minh bị bệnh dịch vì những căn
    bệnh ở vùng nhiệt đới như sốt rét rừng nhưng tình trạng suy nhược của họ
    cũng không thể so sánh với những gì mà người châu Âu đang phục vụ trong
    quân đội Viễn chinh của Pháp phải chịu đựng. Binh lính hành quân qua
    rừng đã phải chịu say nắng, mệt mỏi và tình trạng xuống súc. Bệnh lỵ và sốt
    rét là phổ biến, những vết cắt nhỏ nếu không chữa trị có thể bị nhiễm trùng
    và nhanh chóng trở thành nguy hiểm. Quân đội Việt Minh điều động từ Lào
    về tháng 12 năm 1953 đã bị ốm yếu mệt mỏi và gầy mòn nhưng chứng tỏ
    rằng vẫn có thể đi bộ tới pháo đài và có mặt tại điểm hẹn gần Điện Biên
    Phủ.
    Các mũi tên màu vạch ra tiến trình hoạt động của một đơn vị trên tấm bản
    đồ ở sở chỉ huy đã không chỉ rõ những khó khăn cần phải đối mặt trên chiến
    trường. Mệt mỏi, ốm yếu, thiếu nước, núi cao, thung lũng sâu, rừng rậm,
    dòng chảy xiết chưa được đánh dấu. Nhưng những trận phục kích chết
    người đã kết hợp để tạo nên một lễ rửa tội thực sự với những người lính.

    https://thuviensach.vn

    Một số chỉ huy có kinh nghiệm đều hiểu được những hạn chế của quân lính
    viễn chinh trong môi trường nhiệt đới.
    Khả năng không quân của Mỹ và đặc biệt là trực thăng đã tạo ra một sự
    khác biệt lớn trong cuộn chiến tranh Việt Nam. Sơ tán nhanh những người
    bị thương đã cứu được nhiều mạng sống, những chiếc máy bay lên thẳng đã
    kéo pháo từ vị trí này sang vị trí khác và bộ binh được phân tán tới các vùng
    hạ cánh gần các mục tiêu của họ. Bắc Việt bị gây ấn tượng bởi khả năng
    vận chuyển bằng đường không của Mỹ, thậm chí tới nước cũng được vận
    chuyển bằng máy bay. Nhưng đối với lính Mỹ, những người không thể qua
    nổi khu rừng rậm hay qua vùng châu thổ sình lầy thì môi trường vẫn còn là
    một kẻ thù tiềm ẩn.
    5. Quá nhiều ảnh hưởng của phương Tây có thể gây tai hoạ cho một quân
    đội gồm binh lính vốn là người ở các nước thuộc thế giới thứ ba, tạo ra
    những áp lực tâm lý tiêu cực, làm xói mòn đạo đức, giảm tính chiến đấu và
    gây ra những rạn nứt trong các đội quân đồng minh.
    Quân đội Viễn chinh Pháp của những năm 50 có thể là một cỗ máy chiến
    đấu nhà nghề có hiệu quả. Nhưng vào năm 1953 nó nhanh chóng trở thành
    một cỗ máy sai niên đại. Như một trong những quân đội thực dân cuối cùng
    còn tồn tại, nó đang chỉ ra những căng thẳng và rạn nứt do những khuynh
    hướng mới trên thế giới sau chiến tranh tạo ra. Sự thay đổi chính trị đang
    chống lại tư tưởng của đám tân binh và chủ nghĩa gia trưởng đang trở thành
    lạc hậu. Binh lính Bắc Phi và Tây Phi, những người đã chiến đấu cho Pháp
    trong Thế chiến II vẫn đang làm tốt nhiệm vụ ở Đông Dương, nhờ vào
    phẩm chất của các sĩ quan Pháp và các sĩ quan cựu chiến binh không tham
    chiến. Nhưng, cuộc chiến tranh dường như không bao giờ kết thúc ở một
    vùng đất xa xôi và chiến dịch tuyên truyền của Việt Minh đang gây ra
    những tổn thất lớn. Những lá truyền đơn, những lời kêu gọi của loa phóng
    thanh với các bốt bị cô lập và các chiến dịch tuyên truyền bằng miệng trong
    các quán bar tồi tàn gần các trại quân sự thường đưa ra các câu hỏi: “Bạn

    https://thuviensach.vn

    đang làm gì ở đây? Tại sao bạn lại tới đây để chết? Tại sao bạn lại đánh
    chúng tôi khi đáng ra bạn nên ở lại trong nước để giải phóng cho đất nước
    của bạn?” Nhiều binh lính thực dân đã bắt đầu suy nghĩ tới những câu trả
    lời, đặc biệt khi những lời đồn gây sự lo lắng và sự chống đối lại chế độ
    thống trị của Pháp trong nước đã lan tới Đông Dương.
    Mặc dù các quân đội thực dân giờ chỉ còn là một vấn đề của quá khứ,
    nhưng di chứng của chúng còn kéo dài. Quân đội Việt Nam cộng hoà không
    bao giờ có thể tỏa sáng bản chất của nó như một lực lượng quân Viễn chinh
    châu Âu đã được đào tạo. Khi các cố vấn Mỹ thay thế vai trò của Pháp thì
    sự pha trộn chủ nghĩa thực dân còn tồn tại tạo ra một đề tài liên tiếp đối với
    những người tuyên truyền cho Việt cộng, những người luôn coi Quân đội
    Việt Nam cộng hoà là một “con rối”. Ngày nay, là một siêu cường trên thế
    giới, Mỹ đứng trước những trách nhiệm không tính trước và sự can thiệp
    vào các cuộc chiến có tính chất địa phương cũng như các cuộc xung đột
    căng thẳng. Với chúng tôi, “chủ nghĩa thực dân” là một cái mác lịch sử. Với
    nhiều nước của thế giới thứ ba, nó vẫn còn là một biểu tượng có giá trị tiêu
    cực.
    6. Tính hiệu quả và đạo đức của một lực lượng quân sự có liên quan trực
    tiếp tới sự ủng hộ của chính phủ và nhân dân của quốc gia có liên quan.
    Cuộc chiến đấu trường kỳ và khốc liệt của quân đồn trú Pháp ở Điện Biên
    Phủ là một hiện tượng. Rõ ràng, có nhiều binh lính nhà nghề với những
    nguyên tắc truyền thống và sự hy sinh riêng. Họ biết rằng họ đang chiến
    đấu trong một cuộc chiến, ở một nước khác, mà trong nước ít biết đến.
    Thực tế đó ban đầu đã làm tăng lên tinh thần đoàn kết trong họ và tạo ra
    một ước nguyện giành chiến thắng để biện minh cho nỗ lực của họ ở Đông
    Dương. Nhưng bánh xe lịch sử vẫn quay và họ vẫn đang đi trên con đường
    đó. Pháp đang muốn tìm ra một giải pháp chính trị cho cuộc chiến tranh này
    khi họ tham gia vào trận đánh và sự ủng hộ của chính phủ với nỗ lực chiến
    tranh lại đang giao động. Thêm vào đó, bất cứ cơ hội can thiệp nào của

    https://thuviensach.vn

    đồng minh Mỹ đều sôi lên rồi vụt tắt như ngòi nổ bị ướt. Những người tham
    chiến ở Điện Biên Phủ đang trong một tình thế quân sự hoàn toàn bi đát.
    Mặt khác, những chiến sĩ của Việt Minh biết rằng sau họ toàn dân tộc đã
    được cổ vũ động viên bằng một cuộc chiến tranh nhân dân giành độc lập.
    Với chúng tôi, những lời lẽ ngôn ngữ bản địa của Cộng sản và lời lẽ tuyên
    truyền đều vô tác dụng nhưng với họ những khẩu hiệu định ra các mục tiêu
    cho họ chiến đấu.
    Có một ví dụ được nhắc tới nhiều trong thời kỳ Johnson. Việt Cộng, với sự
    ủng hộ của Bắc Việt, cũng có lòng quyết tâm theo đuổi mục tiêu của mình
    như cha ông họ. Binh lính của chúng tôi, không rõ mục đích của chiến tranh
    và thiếu sự ủng hộ của công chúng trong nước cũng đã chiến đấu giỏi
    nhưng với nhiều người mục tiêu chính là phải sống cho qua trách nhiệm.
    Những thất bại trong cuộc chiến đơn lẻ đã dẫn họ tới chỗ nghiện ma túy,
    xung đột sắc tộc và suy đồi đạo đức.
    Khó có thể tưởng tượng lại có sự lặp lại của Điện Biên Phủ ngày nay nhưng
    dù sao vẫn có cảnh báo. Bất cứ quân đội hiện đại nào tham gia chiến đấu ở
    nước ngoài trong đó cá nhân chiến sĩ đặc biệt là lính mới đều có những nghi
    ngờ về mục đích tham chiến của anh ta là không có lợi. Sự bất lợi này
    không có ở đối phương là những người có lòng tin kiên định vào sự nghiệp
    của họ. Nó có thể trở nên rõ ràng hơn khi phải đối mặt với những tổn thất
    nặng nề, những khẩu phần ăn đạm bạc và sự gian khổ kéo dài.

    https://thuviensach.vn

    NHẢY ĐI! NHẢY ĐI! NHẢY!
    “Giá như ngày hôm đó trời mưa!”
    Thiếu tá Marcel Bigeard, Chỉ huy Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6
    Ngày 20 tháng 11 năm 1953, từ sáng sớm sương mù đã che phủ kín bầu trời
    Hà Nội. Tia nắng đầu tiên làm lộ ra những chiếc máy bay C-47 của lực
    lượng không quân Pháp đứng xếp thành hàng trên sân bay quân sự Bạch
    Mai. Những chiếc xe tải, xe jeep đi giữa những chiếc máy bay để chuyển
    quân, chuyển những bức điện tín và xếp những vũ khí nặng lên máy bay.
    Tiếng mở cửa đuôi máy bay đánh “rầm”, tiếng băng tải hàng kêu ken két,
    tiếng bước chân đi ủng lạo xạo và thỉnh thoảng lại có tiếng quát ra lệnh bị
    nhoà đi nhanh chóng, bị méo mó đi do đập vào những thân máy bay sơn
    màu bạc. Những đoàn lính dù đội mũ sắt trong tư thế sẵn sàng chiến đấu
    loạng choạng bước lên các máy bay C-47 trông giống như những người thợ
    lặn biển sâu, chất nặng trên lưng với những chiếc dù, vũ khí và trang thiết
    bị. Quang cảnh tương tự cũng lặp lại ở Gia Lâm, sân bay dân sự của Hà
    Nội.
    Lính dù tham gia vào chiến tích nhảy dù lớn nhất trong cuộc chiến tranh
    Đông Dương là đội quân tinh nhuệ của đội quân Viễn chinh Pháp. Các đơn
    vị mũi nhọn, Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 của Thiếu tá Marcel Bigeard và
    Tiểu đoàn 2 Trung đoàn dù tiêm kích số 1 của Thiếu tá Jean Bréchignac là
    các đơn vị đã được thử thách trong chiến đấu do các sĩ quan có kinh nghiệm
    đánh ở Việt Nam chỉ huy. Tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 của Thiếu tá Jean
    Souquet dự tính nhảy dù đợt 2 trong cùng ngày cũng nổi tiếng có trình độ
    chuyên nghiệp cao tương tự. Sở chỉ huy của nhóm dù chiến đấu số 1 của
    Trung tá Fourcade - một trong những người thành lập ra đội Biệt kích Đông
    Dương dự tính nhảy dù cùng với tiểu đoàn của Souquet cho dù bản thân

    https://thuviensach.vn

    Fourcade đã chọn nhảy sớm hơn cùng với Bréchignac. Các công binh dù,
    các đại đội trọng pháo và các đội phẫu thuật cũng sẽ tham gia vào chiến
    dịch. Những lính dù này - hay còn gọi là “lính chữa cháy” chiến tranh Đông
    Dương - thường chạy từ điểm nóng này tới điểm nóng khác nhảy từ từ trên
    trời xuống giải vây cho các cứ điểm bị đối phương cô lập và tấn công, hỗ
    trợ các đơn vị bộ binh trong các cuộc càn quét trên mặt đất và thực hiện các
    cuộc đột kích và các nhiệm vụ tình báo cho Tư lệnh tối cao Pháp.
    Những người lính đang được các nhân viên phi hành đoàn giúp đỡ bước
    qua những cái cửa chật hẹp của máy bay C-47, họ chỉ biết lờ mờ về những
    gì chờ đợi họ ở cuối chuyến bay. Nhưng sự tăng cường chiến dịch với số
    lượng máy bay tham gia và thông báo tin tức giờ chót trước khi lên đường
    đã khiến những người lính này hiểu rằng họ đang sắp sửa tham gia vào một
    trận đánh mà họ từng được huấn luyện từ trước đó là một cuộc tập kích dù.
    Cứ 25 người trên một chiếc máy bay như những tổ kén vỏ kim loại mỏng
    phục vụ vận tải, các lính dù tán gẫu với nhau và với đám nhân viên hàng
    không để thoát thỏi tình trạng căng thẳng và chật chội. Kẻ ngồi tựa vào
    những túi hàng trên lưng để ngủ bù, một số nhai kẹo cao su, người thì ngồi
    lặng lẽ, cô đơn theo đuổi những suy nghĩ riêng của mình. Những người
    từng trải hiểu rõ chuyến bay cao và xa sẽ lạnh giá thế nào đã tán tỉnh các
    xếp phi hành đoàn để được đắp chung chiếc chăn nhỏ.
    Đây là một đội quân hỗn hợp về nguồn gốc và chủng tộc: những thanh niên
    từ các vùng ngoại ô của Paris và Lyon: những chàng trai Breton lạnh lùng,
    những binh lính từ mọi miền của Pháp từ Artois tới Provence và từ Poitou
    tới Savoy. Nhiều người trong số lính dù là người Việt Nam thấp bé ít nói
    hoặc người Campuchia da đen được lựa chọn tham gia cùng các đơn vị
    thuộc địa. Khi công việc kiểm tra quân số và trang bị xong, các lính dù
    đành phải chờ đợi chung với tất cả các đội quân.
    Khoảng 300 km về phía Tây Bắc Hà Nội, một chiếc C-47 đã bay hết một
    chặng đường dài, giờ đây bắt đầu lượn vòng, vượt qua dãy núi hình vòng

    https://thuviensach.vn

    nhẫn để tiến vào thung lũng Mường Thanh. Với sự hăng hái của người Pháp
    và dường như bất chấp nguy hiểm, chiếc máy bay này chở một chuyến hàng
    đặc biệt, đó là những người ra quyết định: Trung tướng không quân Pierre
    Bodet (Phó tư lệnh ở Đông Dương), Chuẩn tướng Jean Dechaux (chỉ huy
    Nhóm không quân chiến thuật miền Bắc) và Chuẩn tướng Jean Gilles (chỉ
    huy các lực lượng dù ở Đông Dương) cùng với một nhóm phi công dù dẫn
    đường và các thiết bị radio chuyên dụng. Tất cả điều đó đã biến chiếc máy
    bay C-47 thành một chỉ huy sở bay. Quyết định mà họ phải đưa ra phụ
    thuộc vào thời tiết. Nếu có mưa trên các vùng núi hoặc nếu sương mù còn
    trên thung lũng thì cuộc hành quân Castor (Beaver) sẽ phả...
     
    Gửi ý kiến