Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Đề KT giữa kỳ I vĂN 8 - kntt

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Tuấn An
Ngày gửi: 16h:13' 27-10-2023
Dung lượng: 45.6 KB
Số lượt tải: 962
Nguồn:
Người gửi: Phạm Tuấn An
Ngày gửi: 16h:13' 27-10-2023
Dung lượng: 45.6 KB
Số lượt tải: 962
Số lượt thích:
0 người
MA TRẬN, BẢNG ĐẶC TẢ VÀ ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ I
NĂM HỌC 2023-2024
MÔN NGỮ VĂN – LỚP 8
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
T
T
Kĩ
năn
g
Nội
dung/
Mức độ nhận thức
Nhận biết
đơn vị
kiến
TNK
thức
Q
Tổng
Thông
hiểu
Vận dụng
Vận dụng % điểm
cao
T
L
TNK
Q
T
L
TNK
Q
T
L
TNK
Q
T
L
1
Đọc Thơ
hiểu (Ngoà
i
SGK)
4
0
4
1
0
1
0
0
60
2
Viết Viết
được
một
văn
bản
nghị
luận
về tác
phẩm
truyện
/ thơ
(Ngoà
i
SGK)
0
1*
0
1*
0
1*
0
1*
40
20
5
20
15
0
30
0
10
100
Tổng
Tỉ lệ %
25%
Tỉ lệ chung
35 %
60%
30%
10%
40%
BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ I
Thời gian làm bài: 90 phút
TT
Chương Nội
/
dung/
Chủ đề Đơn vị
kiến
Mức độ đánh giá
Số câu hỏi theo mức độ nhận thức
Nhận
biết
Thông
hiểu
Vận
dụng
Vận
dụng
1
Đọc
hiểu
thức
Thơ
(Văn
bản
ngoài
SGK)
cao
Nhận biết:
4 TN
4TN
1TL
1TL
0
1*
1*
1*
1TL*
- Nhận biết được thể thơ, từ
ngữ, vần, nhịp, các biện pháp
tu từ trong bài thơ.
- Nhận biết được phong cách
ngôn ngữ, phương thức biểu
đạt.
- Nhận biệt được bố cục,
những hình ảnh tiểu biểu, các
yếu tố tự sự, miêu tả được sử
dụng trong bài thơ.
Thông hiểu:
- Hiểu và lí giải được tình
cảm, cảm xúc của nhân vật
trữ tình được thể hiện qua
ngôn ngữ văn bản.
- Hiểu được nội dung chính
của văn bản.
- Rút ra được chủ đề, thông
điệp mà văn bản muốn gửi
đến người đọc.
- Hiểu được giá trị biểu đạt
của từ ngữ, hình ảnh, vần,
nhịp, biện pháp tu từ…
Vận dụng:
- Trình bày được những cảm
nhận sâu sắc và rút ra được
những bài học ứng xử cho
bản thân.
- Đánh giá được nét độc đáo
của bài thơ thể hiện qua cách
nhìn riêng về con người,
cuộc sống; qua cách sử dụng
từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu.
-Thông điệp từ văn bản....
2
Viết
Viết bài Viết văn bản nghị luận
văn nghị
phân tích,đánh giá một tác
luận về
tác phẩm
thơ hoặc
truyện
được rút
ra từ văn
bản
(Ngoài
SGK)
phẩm thơ/truyện
*Nhận biết:
– Xác định được cấu trúc
bài văn nghị luận phân tích,
đánh giá một tác phẩm
thơ/truyện
– Xác định được kiểu bài
phân tích, đánh giá một tác
phẩm thơ/truyện; vấn đề
nghị luận (chủ đề, những
đặc sắc về hình thức nghệ
thuật và tác dụng của
chúng)
– Giới thiệu tác giả, tác
phẩm.
*Thông hiểu:
– Những đặc sắc về nội
dung và nghệ thuật của tác
phẩm thơ/truyện.
– Lí giải được một số đặc
điểm của thể loại qua tác
phẩm.
- Phân tích cụ thể, rõ ràng
về tác phẩm thơ/truyện
(chủ đề, những nét đặc sắc
về hình thức nghệ thuật và
tác dụng của chúng) với
những cứ liệu sinh động.
*Vận dụng:
– Vận dụng các kĩ năng
dùng từ, viết câu, các phép
liên kết, các phương thức
biểu đạt, các thao tác lập
luận để phân tích, cảm
nhận về nội dung, nghệ
thuật của tác phẩm
thơ/truyện.
– Nhận xét về nội dung,
nghệ thuật của tác phẩm
thơ/truyện; vị trí, đóng góp
của tác giả.
*Vận dụng cao:
– So sánh với các tác phẩm
khác; liên hệ với thực tiễn;
vận dụng kiến thức lí luận
văn học để đánh giá, làm
nổi bật vấn đề nghị luận.
– Có sáng tạo trong diễn
đạt, lập luận làm cho lời văn
có giọng điệu, hình ảnh, bài
văn giàu sức thuyết phục.
Tổng
4 TN
1TL
Tỉ lệ %
25
Tỉ lệ chung
60
4TN
1TL
2 TL
1 TL
35
30
10
40
ĐỀ BÀI
Phần I. Đọc hiểu (6,0 điểm)
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ
Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẩn trống đồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn trang đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?
( Bà Huyện Thanh Quan)
Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước phương án trả lời đúng cho các câu hỏi
từ 1 đến 8:
Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
A.Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
B. Thất ngôn bát cú Đường luật
C. Ngũ ngôn
D. Lục bát
Câu 2: Bài thơ được gieo vần gì?
A.Vần lưng
B. Vần chân
C. Vần liền
D. Vần cách
Câu 3:Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?
A.Vui mừng, phấn khởi
B. Xót xa, sầu tủi
C. Buồn, ngậm ngùi
D. Cả ba phương án trên
Câu 4: Bài thơ sử dụng phương thức biểu đạt nào?
A.Nghị luận kết hợp biểu cảm
B. Biểu cảm kết hợp tự sự
C. Miêu tả kết hợp tự sự
D. Biểu cảm kết hợp miêu tả
Câu 5: Nội dung của bài thơ là gì?
A. Tâm trạng buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái của người lữ khách đi xa
nhớ nhà, nhớ quê hương da diết.
B. Tâm trạng hân hoan, vui sướng khi nhớ về quê nhà
C. Nhớ tiếc một thời vàng son của Thăng Long cũng là trở về cội nguồn của dân
tộc, tự hào về sức sống và nền văn hiến Đại Việt
D. Hoài niệm về những tàn dư thủa trước
Câu 6: Nhận định nào sau đây đúng nhất về thơ của Bà Huyện Thanh Quan?
A.Trang nhã, đậm chất bác học và thấm đẫm niềm hoài cổ.
B.Trẻ trung, mạnh mẽ đầy hơi thở dân gian.
C. Ngôn ngữ bình dị, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày.
D.Trang nhã, đậm chất bác học.
Câu 7: Em có nhận xét gì về nghệ thuật đặc sắc của bài thơ Chiều hôm nhớ nhà?
A. Kết cấu bài thơ phù hợp với tâm trạng chủ thể trữ tình
B. Thủ pháp nghệ thuật phóng đại được sử dụng hiệu quả
C. Lời thơ trang nhã, sử dựng nhiều từ Hán Việt, giọng thơ man mác, hoài cổ
D. Ngôn ngữ thơ Nôm bình dị, hình ảnh gợi cảm, giàu màu sắc, nghệ thuật tả cảnh
ngụ tình đặc sắc
Câu 8: Căn cứ vào nội dung bài thơ cho thấy rõ nhất điều gì ở nhân vật trữ tình?
A. Lòng tự trọng
B. Yêu nhà, yêu quê hương
C. Sự hoài cổ
D. Cả ba ý trên
Câu 9: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ trong các câu thơ sau:
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Câu10: Từ nội dung của bài thơ, em hãy nêu rõ vai trò của quê hương đối với mỗi
người. (Trả lời khoảng 5-7 dòng)
Phần II. Viết (4,0 điểm)
Viết bài văn phân tích bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan .
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
Phần
Câu
I
Nội dung
Điểm
ĐỌC HIỂU
6,0
1
B
0,5
2
B
0,5
3
C
0,5
4
D
0,5
5
A
0,5
6
A
0,5
7
C
0,5
8
B
0,5
9
- Mức tối đa:HS chỉ rõ và nêu được tác dụng của biện pháp
tu từ đảo ngữ : Động từ "gác mái" biểu đạt một tâm thế
1,0
nhàn của ngư ông đang sống ở miền quê, đã thoát vòng danh
lợi: Đảo vị ngữ “Gác mái” càng nhấn mạnh sự nghỉ ngơi thư
thái của ngư ông. “Gõ sừng” cũng được đảo ra phía trước để 0.5
nhấn mạnh cử động của mục tử (người chăn trâu ) nhưng là
cử động trở về, nghỉ ngơi . Tóm lại, hai câu thực đã thể hiện
một cách tài hoa chủ đề “Chiều hôm nhớ nhà”=> tạo nên
không khí tĩnh lặng, cảnh chiều thêm tĩnh mịch và ẩn chứa
0.5
một nỗi niềm man mác, bâng khuâng của lòng người.
- Mức chưa tối đa: GV căn cứ vào bài làm của HS để cho
điểm phù hợp.
<1,0
- Mức chưa đạt: HS không có câu trả lời hoặc trả lời sai 0
hoàn toàn.
10 - Mức tối đa:
HS đọc kĩ bài thơ và nêu được vai trò của quê hương đối với
mỗi người .Ví dụ:
1,0
- Quê hương chính là nơi chôn nhau cắt rốn của ta, là nơi
nuôi ta lớn lên với biết bao kỉ niệm chẳng thể phai nhòa.
- Quê hương dạy ta biết lớn khôn và trưởng thành . Quê
hương cho ta những năm tháng tuổi thơ tuyệt vời mà suốt
hành hình trình trưởng thành ta không bao giờ tìm lại được.
- Quê hương ấy, những con người quen thuộc ấy sẽ theo
dấu chân ta trên suốt quãng đời của mình ...
- Mức chưa tối đa: GV căn cứ vào bài làm của HS để cho
điểm phù hợp.
<1,0
- Mức chưa đạt: HS không có câu trả lời hoặc trả lời sai 0
hoàn toàn.
II
VIẾT
4,0
a. Đảm bảo về hình thức: một bài văn phân tích một tác
phẩm thơ ,bố cục 3 phần: MB, TB, KB
0,25
b. Xác định đúng yêu cầu của đề:
0,25
Phân tích một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
c. Hs có trình bày theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo các yêu
cầu sau:
3.0
0.5
Mở bài:Giới thiệu khái quát về Bà Huyện Thanh Quan
(những nét chính về con người, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác,
…).
Giới thiệu khái quát về bài thơ Chiều hôm nhớ nhà (hoàn
cảnh sáng tác hoặc tóm tắt nội dung)
Ví dụ: thông qua tác phẩm Chiều hôm nhớ nhà của Bà
Huyện Thanh Quan đã khẳng định tài hoa thơ phú của mình.
Bài thơ chứa một niềm tâm sự hoài cổ, nuối tiếc thời xưa
được thể hiện qua nghệ thuật miêu tả cảnh để bộc lộ tình của
tác giả.
Thân bài
Nội dung:
Ở bài thơ, ta bắt gặp một quang cảnh buồn, hoang
vắng, cô tịch. Đó là cảnh buổi hoàng hôn tím sẫm,
cái khoảng không gian và thời gian buồn, gợi nhớ
nhất trong một ngày.
Xuất hiện hình ảnh con người nhưng chỉ thoáng 1.5
bóng thôi, và quang cảnh chỉ có thế. Đó là những
người dân lao động nghèo, vất vả làm ăn, sinh hoạt
của họ thật tẻ nhạt, thiếu sinh động.
Bà luôn hoài cổ để chối bỏ thực tại và bày tỏ sự
chán ghét thực tại. Đó là nỗi nhớ nước, nhớ nhà bà
luôn giấu kín trong lòng.
Trước cảnh, bà bộc lộ được niềm tâm sự của mình,
một tâm sự hoài cổ, đầy nuối tiếc, muốn níu giữ
những kỉ niệm xa xưa.
Nghệ thuật
Bài thơ đã đạt đến sự chuẩn mực trong việc sử
dụng thể thơ Đường luật.
Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được sử dụng tài năng
0.5
và đem đến hiệu quả nghệ thuật to lớn.
Nghệ thuật đảo ngữ, chơi chữ cùng việc sử dụng
0.5
các từ láy.
Kết bài: Khái quát những nét đặc sắc về nội dung và nghệ
thuật của bài thơ Chiều hôm nhớ nhà và cảm nghĩ của em
về bài thơ.
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
e. Sáng tạo: Bố cục mạch lạc, diễn đạt lưu loát, dùng phương
tiện liên kết câu ...
0,25
0,25
"CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ” là một trong những kiệt tác thơ thất ngôn bát cú
Đường luật của Bà Huyện Thanh Quan
"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn
Ngàn mai gió cuốn, chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa, khách bước dồn.
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?".
Hai câu đầu 1 và 2 (Mở đề - giới thiệu về thời gian, không gian, sự vật, sự việc).
Câu thơ đầu (phá đề) "Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn" tả một cảnh hoàng
hôn êm đềm. Hai chữ "bảng lảng" như con mắt của câu thơ, tạo nên hình ảnh đặc
sắc, đó là ánh sáng nhạt nhòa lúc trời sắp tối, khi gần khi xa, khiến ta thấy nét buồn
của buổi chiều tà.
Câu thơ thứ hai (thừa đề, chuyển tiếp ý để đi vào phần sau) “ Tiếng ốc xa đưa
vẳng trống dồn”. Đối với người xa nhà thì khoảnh khắc hoàng hôn thật là buồn.
Nỗi buồn ấy lại được tăng lên bởi tiếng ốc (tù và) và tiếng trống dồn vang lên trong
lòng. Ta như còn thấy cả không gian rộng lớn: Chiều dài (tiếng ốc), chiều cao
(tiếng trống trên chòi cao) gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn xa xăm, một
niềm sầu thương tê tái. Câu thơ vừa có ánh sáng (bảng lảng) vừa có âm thanh
(tiếng ốc, trống dồn) tạo cho cảnh hoàng hôn một màu sắc riêng của miền quê.
Hai câu thực 3 và 4 (Trình bày, mô tả sự vật, sự việc giải thích rõ ý đầu bài)
“Gác mái, ngư ông về viễn phố/Gõ sừng, mục tử lại cô thôn”.
Chiều xuống, ngư ông cùng con thuyền trở về viễn phố (nghĩa là bến xa) với
tâm trạng của một ông chài sau một ngày làm việc tự thấy được nghỉ ngơi nhàn hạ,
thoải mái. Động từ "gác mái" tức là gác mái chèo, biểu đạt một tâm thế nhàn tản
của ngư ông.
Đồng thời trong cảnh là lũ trẻ chăn trâu đưa trâu về nhà, trở lại "cô thôn".
Động tác "gõ sừng" của các mục đồng như gõ nhịp câu hát, thật thanh thản, hồn
nhiên, yêu đời.
Hai câu luận 5 và 6 (Luận - bình luận 2 câu thực diễn tả suy nghĩ, thái độ, cảm
xúc về sự vật, hiện tượng.)
“Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi/Dặm liễu, sương sa khách bước dồn”.
Ta như nghe “ngàn mai” xào xạc trong "gió cuốn" và thấy chim mỏi cánh bay gấp
về tổ nơi rừng xanh. Trong “sương sa” mù mịt “dặm liễu” ấy, người lữ khách thì
một mình một bóng đang "bước dồn" về nơi mình cần đi tới.
Tác giả mượn cảnh để tả tình, đó là cái sự cô đơn, bơ vơ của người lữ khách
trên nẻo đường tha hương nghìn dặm. Hai hình ảnh "chim bay mỏi" và "khách
bước dồn" là hai nét vẽ đối nhau, đặc tả sự mỏi mệt, cô đơn. Hai câu luận đã mở
rộng thêm ý tứ của hai câu thực để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Nữ sĩ sử
dụng đảo ngữ: Lẽ ra là chim bay mỏi vào ngàn mai gió cuốn, thì tác giả đưa ngàn
mai gió cuốn lên đầu. Cũng như vậy : Lẽ ra là Khách bước dồn vào dặm liễu sương
sa thì tác giả lại đưa Dặm liễu sương sa lên đầu. Dụng ý làm nổi bật lên cái nẻo
đường xa của miền đất lạ và sự vất vả của khách bộ hành, cánh chim bay.
Về ký thuật ta thấy hai câu 3 và 4 "đối" nhau và hai câu 5, 6 cũng "đối"
nhau. Đối thường được hiểu là sự tương phản (về nghĩa kể cả từ đơn, từ ghép, từ
láy) bao gồm cả sự tương đương trong cách dùng các từ ngữ. Đối chữ: danh từ đối
danh từ, động từ đối động từ. Đối cảnh: trên đối dưới, cảnh động đối cảnh tĩnh, từ
Hán Việt đối với từ Hán Việt...
Hai câu Thực:
Gác mái đối với Gõ sừng (“gác” và “gõ” là động từ, “mái” và “sừng” là
danh từ)
ngư ông đối với mục tử (danh từ Hán Việt đối với danh từ Hán Việt)
về viễn phố đối với lại cô thôn(“về” và “lại” là động từ, “viễn phố” và “cô
thôn” là danh từ Hán Việt đối với danh từ Hán Việt)
Hai câu Luận:
Ngàn mai đối với Dặm liễu
gió cuốn đối với sương sa (“gió” và “sương” là danh từ, “cuốn” và “sa”là
động từ)
chim bay mỏi đối với khách bước dồn (“chim” và “khách” là danh từ, “bay”
và “bước” là động từ “mỏi” và “dồn” là trạng từ).
Nếu một bài thơ Đường luật mà các câu 3, 4 không đối nhau, các câu 5, 6 không
đối nhau thì gọi là “Thất đối)
Hai câu cuối 7 và 8 (kết thúc ý toàn bài, khái quát toàn bộ nội dung bài theo
hướng mở rộng và nâng cao “Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ/Lấy ai mà kể
nỗi hàn ôn?".
Hai câu này của nữ sĩ như hội tụ, dồn nén lại tình thương, nỗi nhớ của mình.
Ở đây có sự đối nhau “Kẻ Chương Đài - Người lữ thứ". Chương Đài là điển tích
nói về chuyện li biệt, nhớ thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời
nhà Hán xa xưa. Xin nhắc ra điển tích này để độc giả rõ."Chương Đài" là tên một
con đường ở thành Trường An bên Tàu. Đời nhà Đường, Hàn Hoành tuổi trẻ nổi
tiếng là một người tài danh. Nhà nghèo kiết, lấy một nàng kỵ nữ họ Liễu ở Chương
Đài. Mấy năm sau, quan Tiết độ sứ ở châu Thanh là Hầu Hy Dật mến tài, tâu vua
xin Hàn Hoành làm người giúp việc. Bấy giờ, đương lúc nhiễu loạn, Hàn không
dám đem Liễu đi theo, để nàng ở lại kinh đô, định chờ dịp tiện sẽ về đón. Nhưng
trải qua ba năm trời, Hàn vẫn không về đón được. Nhân lấy vàng đựng vào một cái
túi gởi về cho Liễu, kèm theo một bài thơ:
“Liễu ơi, hỡi Liễu Chương Đài,
Ngày xưa xanh biếc, hỏi nay có còn?
Ví tơ buông vẫn xanh rờn,
Hay vào tay khác, khó còn nguyên xưa!”
Liễu được thơ cũng đáp lại:
“Xanh non cành liễu đương tươi,
Năm năm luống để tặng người biệt ly.
Thu sang quyện lá vàng đi,
Chàng về biết có còn gì bẻ vin!”
Sự đối lập "Chương Đài" và "lữ thứ" gợi ra cho ta một cảnh tượng về nỗi buồn biệt
li của của du khách nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ người thân yêu . Đó cũng là một
tiếng than thở của tác giả được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. "Ai" là đại từ
phiếm chỉ, nhưng chúng ta hiểu đó là chồng, con, những người thân thương của nữ
sĩ. "Hàn ôn” là nóng lạnh, "nỗi hàn ôn" là nỗi niềm tâm sự. Ở đây Người lữ thứ là
Bà Huyện Thanh Quan trong chiều tha hương, thấy mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi
buồn thương không sao kể xiết.
Bà Huyện Thanh Quan, với tài sáng tạo vô song về chọn từ, tạo hình ảnh,
đối câu, đối từ, đối thanh, tỏ rõ là một hồn thơ tài hoa, một ngòi bút trang nhã.
Cảnh vật và tạo hình của nữ sĩ trở nên gần gũi, thân thuộc với mọi con người Việt
Nam, mang tâm hồn đậm đà bản sắc dân tộc. Bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của nữ
sĩ là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương, nỗi nhớ, làm bâng khuâng
xao xuyến lòng ta.
Thơ của Bà Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay
nói đến hoàng hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán Việt (bảng lảng, hoàng
hôn, ngư ông, viễn phố...) tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm
bổng hấp dẫn. "Chiều hôm nhớ nhà" là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình
thương nhớ, bâng khuâng.
Ai đã từng đọc "Truyện Kiều" chắc không thể nào quên được câu thơ của
Nguyễn Du nói về hoàng hôn:
"Sông sa vò võ phương trời,
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng".
Cũng nói về hoàng hôn và nỗi buồn của kẻ tha hương, bài thơ "Chiều hôm nhớ
nhà" của Bà Huyện Thanh Quan là một kiệt tác của nền thơ Nôm Việt Nam trong
thế kỉ XIX:
"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?".
Câu thơ đầu tả ánh hoàng hôn một buổi chiều viễn xứ. Hai chữ "bảng lảng" có
giá trị tạo hình đặc sắc: ánh sáng lờ mờ lúc sắp tối, mơ hồ gần xa, tạo cho bức
tranh một buổi chiều thấm buồn:
"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn".
Hai chữ "bảng lảng" là nhãn tự - như con mắt của câu thơ. Nguyễn Du cũng có
lần viết:
"Trời tây bảng lảng bóng vàng" (Truyện Kiều)
Chỉ qua một vần thơ, một câu thơ, một chữ thôi, người đọc cũng cảm nhận được
ngòi bút thơ vô cùng điêu luyện của Bà Huyện Thanh Quan.
Đối với người đi xa, khoảnh khắc hoàng hôn, buồn sao kể hết được? Nỗi
buồn ấy lại được nhân lên khi tiếng ốc (tù và) cùng tiếng trống đồn "xa đưa vẳng"
lại. Chiều dài (tiếng ốc), chiều cao (tiếng trống đồn trên chòi cao) của không gian
được diễn tả qua các hợp âm ấy, đã gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn lê
thê, một niềm sầu thương tê tái. Câu thơ vừa có ánh sáng (bảng lảng) vừa có âm
thanh (tiếng ốc, trống đồn) tạo cho cảnh hoàng hôn miền đất lạ mang màu sắc dân
dã:
"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn "
Phần thực và phần luận, các thi liệu làm nên cốt cách bài thơ được chọn lựa
tinh tế, biểu đạt một hồn thơ giàu cảm xúc. Ngư ông, mục tử, lữ khách... thế giới
con người được nói đến. Cảnh vật thì có ngàn mai, có gió và sương, có "chim bay
mỏi" ... Những thi liệu ấy mang tính chất ước lệ của thi pháp cổ (người thì có: ngư,
tiều; cảnh vật, cây cỏ, hoa lá thì có: phong, sương, mai, liễu, cánh chim chiều...)
nhưng với tài sáng tạo vô song: chọn từ, tạo hình ảnh, đối câu, đối từ, đối thanh, ở
phương diện nào, nữ sĩ cũng tỏ rõ một hồn thơ tài hoa, một ngòi bút trang nhã. Vì
thế cảnh vật trở nên gần gũi, thân thuộc với mọi con người Việt Nam. Cảnh vật
mang hồn người đậm đà bản sắc dân tộc.
Chiều tà, ngư ông cùng con thuyền nhẹ trôi theo dòng sông về viễn phố (bến
xa) với tâm trạng của một "ngư ông" - ông chài nhàn hạ, thoải mái. Động từ "gác
mái" biểu đạt một tâm thế nhàn của ngư ông đang sống ở miền quê, đã thoát vòng
danh lợi:
"Gác mái, ngư ông về viễn phố".
Cùng lúc đó, lũ trẻ đưa trâu về chuồng, trở lại "cô thôn", cử chỉ "gõ sừng"
của mục đồng thật hồn nhiên, vô tư, yêu đời.
"Gõ sừng mục tử lại cô thôn".
Đó là hai nét vẽ về con người, hai bức tranh tuyệt đẹp nơi thôn dã vô cùng
thân thuộc đáng yêu.
Hai câu luận tiếp theo mượn cảnh để tả cái lạnh lẽo, cô liêu, bơ vơ của người
lữ khách trên nẻo đường tha hương nghìn dặm. Trời sắp tối. Ngàn mai xào xạc
trong "gió cuốn"; gió mỗi lúc một mạnh. Cánh chim mỏi bay gấp về rừng tìm tổ.
Sương sa mù mịt dặm liễu. Và trên con đường sương gió ấy, lạnh lẽo ấy chỉ có một
người lữ khách, một mình một bóng đang "bước dồn" tìm nơi nghỉ trọ. Hai hình
ảnh "chim bay mỏi" và "khách bước dồn" là hai nét vẽ đăng đôi, đặc tả sự mỏi mệt,
cô đơn. Con người như bơ vơ, lạc lõng giữa “gió cuốn" và "sương sa", đang sống
trong khoảnh khắc sầu cảm, buồn thương ghê gớm. Câu thơ để lại nhiều ám ảnh
trong lòng người đọc. Đảo ngữ làm nổi bật cái bao la của nẻo đường xa miền đất
lạ:
"Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu, sương sa khách bước dồn".
Bằng sự trải nghiệm của cuộc đời, đã sống những khoảnh khắc hoàng hôn ở
nơi đất khách quê người, nữ sĩ mới viết được những câu thơ rất thực miêu tả cảnh
ngộ lẻ loi của kẻ tha hương hay đến thế!
Hai câu kết hội tụ, dồn nén lại tình thương nhớ. Nữ sĩ cảm thấy cô đơn hơn
bao giờ hết. Câu thứ bảy gồm hai vế tiểu đối, lời thơ cân xứng đẹp: "Kẻ chốn
Chương Đài người lữ thứ". Chương Đài là điển tích nói về chuyện li biệt, nhớ
thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời nhà Hán xa xưa. Bà Huyện
Thanh Quan đã vận dụng điển tích ấy một cách sáng tạo. "Chương Đài" và "lữ thứ"
trong văn cảnh gợi ra một trường liên tưởng về nỗi buồn li biệt của khách đi xa nhớ
nhà, nhớ quê hương da diết. Khép lại bài thơ là một tiếng than giãi bày một niềm
tâm sự được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. "Ai" là đại từ phiếm chỉ, nhưng ai
cũng biết đó là chồng, con, những người thân thương của nữ sĩ. "Hàn ôn” là nóng
lạnh, "nỗi hàn ôn" là nỗi niềm tâm sự. Người lữ thứ trong chiều tha hương thấy
mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi buồn thương không sao kể xiết:
"Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?".
"Chiều hôm nhớ nhà" và "Qua Đèo Ngang" hai kiệt tác thơ thất ngôn bát cú
Đường luật. Đó là chùm thơ của Bà Huyện Thanh Quan sáng tác trong những
tháng ngày nữ sĩ trên đường thiên lí vào kinh đô Huế nhận chức nữ quan trong
triều Nguyễn. Có thể coi đó là những bút kí - thơ vô cùng độc đáo. Thơ của Bà
Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay nói đến hoàng
hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán Việt (bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông,
viễn phố...) tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm bổng hấp dẫn.
"Chiều hôm nhớ nhà" là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương nhớ, bâng
khuâng,...
NĂM HỌC 2023-2024
MÔN NGỮ VĂN – LỚP 8
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
T
T
Kĩ
năn
g
Nội
dung/
Mức độ nhận thức
Nhận biết
đơn vị
kiến
TNK
thức
Q
Tổng
Thông
hiểu
Vận dụng
Vận dụng % điểm
cao
T
L
TNK
Q
T
L
TNK
Q
T
L
TNK
Q
T
L
1
Đọc Thơ
hiểu (Ngoà
i
SGK)
4
0
4
1
0
1
0
0
60
2
Viết Viết
được
một
văn
bản
nghị
luận
về tác
phẩm
truyện
/ thơ
(Ngoà
i
SGK)
0
1*
0
1*
0
1*
0
1*
40
20
5
20
15
0
30
0
10
100
Tổng
Tỉ lệ %
25%
Tỉ lệ chung
35 %
60%
30%
10%
40%
BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ I
Thời gian làm bài: 90 phút
TT
Chương Nội
/
dung/
Chủ đề Đơn vị
kiến
Mức độ đánh giá
Số câu hỏi theo mức độ nhận thức
Nhận
biết
Thông
hiểu
Vận
dụng
Vận
dụng
1
Đọc
hiểu
thức
Thơ
(Văn
bản
ngoài
SGK)
cao
Nhận biết:
4 TN
4TN
1TL
1TL
0
1*
1*
1*
1TL*
- Nhận biết được thể thơ, từ
ngữ, vần, nhịp, các biện pháp
tu từ trong bài thơ.
- Nhận biết được phong cách
ngôn ngữ, phương thức biểu
đạt.
- Nhận biệt được bố cục,
những hình ảnh tiểu biểu, các
yếu tố tự sự, miêu tả được sử
dụng trong bài thơ.
Thông hiểu:
- Hiểu và lí giải được tình
cảm, cảm xúc của nhân vật
trữ tình được thể hiện qua
ngôn ngữ văn bản.
- Hiểu được nội dung chính
của văn bản.
- Rút ra được chủ đề, thông
điệp mà văn bản muốn gửi
đến người đọc.
- Hiểu được giá trị biểu đạt
của từ ngữ, hình ảnh, vần,
nhịp, biện pháp tu từ…
Vận dụng:
- Trình bày được những cảm
nhận sâu sắc và rút ra được
những bài học ứng xử cho
bản thân.
- Đánh giá được nét độc đáo
của bài thơ thể hiện qua cách
nhìn riêng về con người,
cuộc sống; qua cách sử dụng
từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu.
-Thông điệp từ văn bản....
2
Viết
Viết bài Viết văn bản nghị luận
văn nghị
phân tích,đánh giá một tác
luận về
tác phẩm
thơ hoặc
truyện
được rút
ra từ văn
bản
(Ngoài
SGK)
phẩm thơ/truyện
*Nhận biết:
– Xác định được cấu trúc
bài văn nghị luận phân tích,
đánh giá một tác phẩm
thơ/truyện
– Xác định được kiểu bài
phân tích, đánh giá một tác
phẩm thơ/truyện; vấn đề
nghị luận (chủ đề, những
đặc sắc về hình thức nghệ
thuật và tác dụng của
chúng)
– Giới thiệu tác giả, tác
phẩm.
*Thông hiểu:
– Những đặc sắc về nội
dung và nghệ thuật của tác
phẩm thơ/truyện.
– Lí giải được một số đặc
điểm của thể loại qua tác
phẩm.
- Phân tích cụ thể, rõ ràng
về tác phẩm thơ/truyện
(chủ đề, những nét đặc sắc
về hình thức nghệ thuật và
tác dụng của chúng) với
những cứ liệu sinh động.
*Vận dụng:
– Vận dụng các kĩ năng
dùng từ, viết câu, các phép
liên kết, các phương thức
biểu đạt, các thao tác lập
luận để phân tích, cảm
nhận về nội dung, nghệ
thuật của tác phẩm
thơ/truyện.
– Nhận xét về nội dung,
nghệ thuật của tác phẩm
thơ/truyện; vị trí, đóng góp
của tác giả.
*Vận dụng cao:
– So sánh với các tác phẩm
khác; liên hệ với thực tiễn;
vận dụng kiến thức lí luận
văn học để đánh giá, làm
nổi bật vấn đề nghị luận.
– Có sáng tạo trong diễn
đạt, lập luận làm cho lời văn
có giọng điệu, hình ảnh, bài
văn giàu sức thuyết phục.
Tổng
4 TN
1TL
Tỉ lệ %
25
Tỉ lệ chung
60
4TN
1TL
2 TL
1 TL
35
30
10
40
ĐỀ BÀI
Phần I. Đọc hiểu (6,0 điểm)
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ
Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẩn trống đồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn trang đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?
( Bà Huyện Thanh Quan)
Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước phương án trả lời đúng cho các câu hỏi
từ 1 đến 8:
Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
A.Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
B. Thất ngôn bát cú Đường luật
C. Ngũ ngôn
D. Lục bát
Câu 2: Bài thơ được gieo vần gì?
A.Vần lưng
B. Vần chân
C. Vần liền
D. Vần cách
Câu 3:Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?
A.Vui mừng, phấn khởi
B. Xót xa, sầu tủi
C. Buồn, ngậm ngùi
D. Cả ba phương án trên
Câu 4: Bài thơ sử dụng phương thức biểu đạt nào?
A.Nghị luận kết hợp biểu cảm
B. Biểu cảm kết hợp tự sự
C. Miêu tả kết hợp tự sự
D. Biểu cảm kết hợp miêu tả
Câu 5: Nội dung của bài thơ là gì?
A. Tâm trạng buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái của người lữ khách đi xa
nhớ nhà, nhớ quê hương da diết.
B. Tâm trạng hân hoan, vui sướng khi nhớ về quê nhà
C. Nhớ tiếc một thời vàng son của Thăng Long cũng là trở về cội nguồn của dân
tộc, tự hào về sức sống và nền văn hiến Đại Việt
D. Hoài niệm về những tàn dư thủa trước
Câu 6: Nhận định nào sau đây đúng nhất về thơ của Bà Huyện Thanh Quan?
A.Trang nhã, đậm chất bác học và thấm đẫm niềm hoài cổ.
B.Trẻ trung, mạnh mẽ đầy hơi thở dân gian.
C. Ngôn ngữ bình dị, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày.
D.Trang nhã, đậm chất bác học.
Câu 7: Em có nhận xét gì về nghệ thuật đặc sắc của bài thơ Chiều hôm nhớ nhà?
A. Kết cấu bài thơ phù hợp với tâm trạng chủ thể trữ tình
B. Thủ pháp nghệ thuật phóng đại được sử dụng hiệu quả
C. Lời thơ trang nhã, sử dựng nhiều từ Hán Việt, giọng thơ man mác, hoài cổ
D. Ngôn ngữ thơ Nôm bình dị, hình ảnh gợi cảm, giàu màu sắc, nghệ thuật tả cảnh
ngụ tình đặc sắc
Câu 8: Căn cứ vào nội dung bài thơ cho thấy rõ nhất điều gì ở nhân vật trữ tình?
A. Lòng tự trọng
B. Yêu nhà, yêu quê hương
C. Sự hoài cổ
D. Cả ba ý trên
Câu 9: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ trong các câu thơ sau:
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Câu10: Từ nội dung của bài thơ, em hãy nêu rõ vai trò của quê hương đối với mỗi
người. (Trả lời khoảng 5-7 dòng)
Phần II. Viết (4,0 điểm)
Viết bài văn phân tích bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan .
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
Phần
Câu
I
Nội dung
Điểm
ĐỌC HIỂU
6,0
1
B
0,5
2
B
0,5
3
C
0,5
4
D
0,5
5
A
0,5
6
A
0,5
7
C
0,5
8
B
0,5
9
- Mức tối đa:HS chỉ rõ và nêu được tác dụng của biện pháp
tu từ đảo ngữ : Động từ "gác mái" biểu đạt một tâm thế
1,0
nhàn của ngư ông đang sống ở miền quê, đã thoát vòng danh
lợi: Đảo vị ngữ “Gác mái” càng nhấn mạnh sự nghỉ ngơi thư
thái của ngư ông. “Gõ sừng” cũng được đảo ra phía trước để 0.5
nhấn mạnh cử động của mục tử (người chăn trâu ) nhưng là
cử động trở về, nghỉ ngơi . Tóm lại, hai câu thực đã thể hiện
một cách tài hoa chủ đề “Chiều hôm nhớ nhà”=> tạo nên
không khí tĩnh lặng, cảnh chiều thêm tĩnh mịch và ẩn chứa
0.5
một nỗi niềm man mác, bâng khuâng của lòng người.
- Mức chưa tối đa: GV căn cứ vào bài làm của HS để cho
điểm phù hợp.
<1,0
- Mức chưa đạt: HS không có câu trả lời hoặc trả lời sai 0
hoàn toàn.
10 - Mức tối đa:
HS đọc kĩ bài thơ và nêu được vai trò của quê hương đối với
mỗi người .Ví dụ:
1,0
- Quê hương chính là nơi chôn nhau cắt rốn của ta, là nơi
nuôi ta lớn lên với biết bao kỉ niệm chẳng thể phai nhòa.
- Quê hương dạy ta biết lớn khôn và trưởng thành . Quê
hương cho ta những năm tháng tuổi thơ tuyệt vời mà suốt
hành hình trình trưởng thành ta không bao giờ tìm lại được.
- Quê hương ấy, những con người quen thuộc ấy sẽ theo
dấu chân ta trên suốt quãng đời của mình ...
- Mức chưa tối đa: GV căn cứ vào bài làm của HS để cho
điểm phù hợp.
<1,0
- Mức chưa đạt: HS không có câu trả lời hoặc trả lời sai 0
hoàn toàn.
II
VIẾT
4,0
a. Đảm bảo về hình thức: một bài văn phân tích một tác
phẩm thơ ,bố cục 3 phần: MB, TB, KB
0,25
b. Xác định đúng yêu cầu của đề:
0,25
Phân tích một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
c. Hs có trình bày theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo các yêu
cầu sau:
3.0
0.5
Mở bài:Giới thiệu khái quát về Bà Huyện Thanh Quan
(những nét chính về con người, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác,
…).
Giới thiệu khái quát về bài thơ Chiều hôm nhớ nhà (hoàn
cảnh sáng tác hoặc tóm tắt nội dung)
Ví dụ: thông qua tác phẩm Chiều hôm nhớ nhà của Bà
Huyện Thanh Quan đã khẳng định tài hoa thơ phú của mình.
Bài thơ chứa một niềm tâm sự hoài cổ, nuối tiếc thời xưa
được thể hiện qua nghệ thuật miêu tả cảnh để bộc lộ tình của
tác giả.
Thân bài
Nội dung:
Ở bài thơ, ta bắt gặp một quang cảnh buồn, hoang
vắng, cô tịch. Đó là cảnh buổi hoàng hôn tím sẫm,
cái khoảng không gian và thời gian buồn, gợi nhớ
nhất trong một ngày.
Xuất hiện hình ảnh con người nhưng chỉ thoáng 1.5
bóng thôi, và quang cảnh chỉ có thế. Đó là những
người dân lao động nghèo, vất vả làm ăn, sinh hoạt
của họ thật tẻ nhạt, thiếu sinh động.
Bà luôn hoài cổ để chối bỏ thực tại và bày tỏ sự
chán ghét thực tại. Đó là nỗi nhớ nước, nhớ nhà bà
luôn giấu kín trong lòng.
Trước cảnh, bà bộc lộ được niềm tâm sự của mình,
một tâm sự hoài cổ, đầy nuối tiếc, muốn níu giữ
những kỉ niệm xa xưa.
Nghệ thuật
Bài thơ đã đạt đến sự chuẩn mực trong việc sử
dụng thể thơ Đường luật.
Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được sử dụng tài năng
0.5
và đem đến hiệu quả nghệ thuật to lớn.
Nghệ thuật đảo ngữ, chơi chữ cùng việc sử dụng
0.5
các từ láy.
Kết bài: Khái quát những nét đặc sắc về nội dung và nghệ
thuật của bài thơ Chiều hôm nhớ nhà và cảm nghĩ của em
về bài thơ.
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
e. Sáng tạo: Bố cục mạch lạc, diễn đạt lưu loát, dùng phương
tiện liên kết câu ...
0,25
0,25
"CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ” là một trong những kiệt tác thơ thất ngôn bát cú
Đường luật của Bà Huyện Thanh Quan
"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn
Ngàn mai gió cuốn, chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa, khách bước dồn.
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?".
Hai câu đầu 1 và 2 (Mở đề - giới thiệu về thời gian, không gian, sự vật, sự việc).
Câu thơ đầu (phá đề) "Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn" tả một cảnh hoàng
hôn êm đềm. Hai chữ "bảng lảng" như con mắt của câu thơ, tạo nên hình ảnh đặc
sắc, đó là ánh sáng nhạt nhòa lúc trời sắp tối, khi gần khi xa, khiến ta thấy nét buồn
của buổi chiều tà.
Câu thơ thứ hai (thừa đề, chuyển tiếp ý để đi vào phần sau) “ Tiếng ốc xa đưa
vẳng trống dồn”. Đối với người xa nhà thì khoảnh khắc hoàng hôn thật là buồn.
Nỗi buồn ấy lại được tăng lên bởi tiếng ốc (tù và) và tiếng trống dồn vang lên trong
lòng. Ta như còn thấy cả không gian rộng lớn: Chiều dài (tiếng ốc), chiều cao
(tiếng trống trên chòi cao) gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn xa xăm, một
niềm sầu thương tê tái. Câu thơ vừa có ánh sáng (bảng lảng) vừa có âm thanh
(tiếng ốc, trống dồn) tạo cho cảnh hoàng hôn một màu sắc riêng của miền quê.
Hai câu thực 3 và 4 (Trình bày, mô tả sự vật, sự việc giải thích rõ ý đầu bài)
“Gác mái, ngư ông về viễn phố/Gõ sừng, mục tử lại cô thôn”.
Chiều xuống, ngư ông cùng con thuyền trở về viễn phố (nghĩa là bến xa) với
tâm trạng của một ông chài sau một ngày làm việc tự thấy được nghỉ ngơi nhàn hạ,
thoải mái. Động từ "gác mái" tức là gác mái chèo, biểu đạt một tâm thế nhàn tản
của ngư ông.
Đồng thời trong cảnh là lũ trẻ chăn trâu đưa trâu về nhà, trở lại "cô thôn".
Động tác "gõ sừng" của các mục đồng như gõ nhịp câu hát, thật thanh thản, hồn
nhiên, yêu đời.
Hai câu luận 5 và 6 (Luận - bình luận 2 câu thực diễn tả suy nghĩ, thái độ, cảm
xúc về sự vật, hiện tượng.)
“Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi/Dặm liễu, sương sa khách bước dồn”.
Ta như nghe “ngàn mai” xào xạc trong "gió cuốn" và thấy chim mỏi cánh bay gấp
về tổ nơi rừng xanh. Trong “sương sa” mù mịt “dặm liễu” ấy, người lữ khách thì
một mình một bóng đang "bước dồn" về nơi mình cần đi tới.
Tác giả mượn cảnh để tả tình, đó là cái sự cô đơn, bơ vơ của người lữ khách
trên nẻo đường tha hương nghìn dặm. Hai hình ảnh "chim bay mỏi" và "khách
bước dồn" là hai nét vẽ đối nhau, đặc tả sự mỏi mệt, cô đơn. Hai câu luận đã mở
rộng thêm ý tứ của hai câu thực để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Nữ sĩ sử
dụng đảo ngữ: Lẽ ra là chim bay mỏi vào ngàn mai gió cuốn, thì tác giả đưa ngàn
mai gió cuốn lên đầu. Cũng như vậy : Lẽ ra là Khách bước dồn vào dặm liễu sương
sa thì tác giả lại đưa Dặm liễu sương sa lên đầu. Dụng ý làm nổi bật lên cái nẻo
đường xa của miền đất lạ và sự vất vả của khách bộ hành, cánh chim bay.
Về ký thuật ta thấy hai câu 3 và 4 "đối" nhau và hai câu 5, 6 cũng "đối"
nhau. Đối thường được hiểu là sự tương phản (về nghĩa kể cả từ đơn, từ ghép, từ
láy) bao gồm cả sự tương đương trong cách dùng các từ ngữ. Đối chữ: danh từ đối
danh từ, động từ đối động từ. Đối cảnh: trên đối dưới, cảnh động đối cảnh tĩnh, từ
Hán Việt đối với từ Hán Việt...
Hai câu Thực:
Gác mái đối với Gõ sừng (“gác” và “gõ” là động từ, “mái” và “sừng” là
danh từ)
ngư ông đối với mục tử (danh từ Hán Việt đối với danh từ Hán Việt)
về viễn phố đối với lại cô thôn(“về” và “lại” là động từ, “viễn phố” và “cô
thôn” là danh từ Hán Việt đối với danh từ Hán Việt)
Hai câu Luận:
Ngàn mai đối với Dặm liễu
gió cuốn đối với sương sa (“gió” và “sương” là danh từ, “cuốn” và “sa”là
động từ)
chim bay mỏi đối với khách bước dồn (“chim” và “khách” là danh từ, “bay”
và “bước” là động từ “mỏi” và “dồn” là trạng từ).
Nếu một bài thơ Đường luật mà các câu 3, 4 không đối nhau, các câu 5, 6 không
đối nhau thì gọi là “Thất đối)
Hai câu cuối 7 và 8 (kết thúc ý toàn bài, khái quát toàn bộ nội dung bài theo
hướng mở rộng và nâng cao “Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ/Lấy ai mà kể
nỗi hàn ôn?".
Hai câu này của nữ sĩ như hội tụ, dồn nén lại tình thương, nỗi nhớ của mình.
Ở đây có sự đối nhau “Kẻ Chương Đài - Người lữ thứ". Chương Đài là điển tích
nói về chuyện li biệt, nhớ thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời
nhà Hán xa xưa. Xin nhắc ra điển tích này để độc giả rõ."Chương Đài" là tên một
con đường ở thành Trường An bên Tàu. Đời nhà Đường, Hàn Hoành tuổi trẻ nổi
tiếng là một người tài danh. Nhà nghèo kiết, lấy một nàng kỵ nữ họ Liễu ở Chương
Đài. Mấy năm sau, quan Tiết độ sứ ở châu Thanh là Hầu Hy Dật mến tài, tâu vua
xin Hàn Hoành làm người giúp việc. Bấy giờ, đương lúc nhiễu loạn, Hàn không
dám đem Liễu đi theo, để nàng ở lại kinh đô, định chờ dịp tiện sẽ về đón. Nhưng
trải qua ba năm trời, Hàn vẫn không về đón được. Nhân lấy vàng đựng vào một cái
túi gởi về cho Liễu, kèm theo một bài thơ:
“Liễu ơi, hỡi Liễu Chương Đài,
Ngày xưa xanh biếc, hỏi nay có còn?
Ví tơ buông vẫn xanh rờn,
Hay vào tay khác, khó còn nguyên xưa!”
Liễu được thơ cũng đáp lại:
“Xanh non cành liễu đương tươi,
Năm năm luống để tặng người biệt ly.
Thu sang quyện lá vàng đi,
Chàng về biết có còn gì bẻ vin!”
Sự đối lập "Chương Đài" và "lữ thứ" gợi ra cho ta một cảnh tượng về nỗi buồn biệt
li của của du khách nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ người thân yêu . Đó cũng là một
tiếng than thở của tác giả được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. "Ai" là đại từ
phiếm chỉ, nhưng chúng ta hiểu đó là chồng, con, những người thân thương của nữ
sĩ. "Hàn ôn” là nóng lạnh, "nỗi hàn ôn" là nỗi niềm tâm sự. Ở đây Người lữ thứ là
Bà Huyện Thanh Quan trong chiều tha hương, thấy mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi
buồn thương không sao kể xiết.
Bà Huyện Thanh Quan, với tài sáng tạo vô song về chọn từ, tạo hình ảnh,
đối câu, đối từ, đối thanh, tỏ rõ là một hồn thơ tài hoa, một ngòi bút trang nhã.
Cảnh vật và tạo hình của nữ sĩ trở nên gần gũi, thân thuộc với mọi con người Việt
Nam, mang tâm hồn đậm đà bản sắc dân tộc. Bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của nữ
sĩ là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương, nỗi nhớ, làm bâng khuâng
xao xuyến lòng ta.
Thơ của Bà Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay
nói đến hoàng hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán Việt (bảng lảng, hoàng
hôn, ngư ông, viễn phố...) tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm
bổng hấp dẫn. "Chiều hôm nhớ nhà" là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình
thương nhớ, bâng khuâng.
Ai đã từng đọc "Truyện Kiều" chắc không thể nào quên được câu thơ của
Nguyễn Du nói về hoàng hôn:
"Sông sa vò võ phương trời,
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng".
Cũng nói về hoàng hôn và nỗi buồn của kẻ tha hương, bài thơ "Chiều hôm nhớ
nhà" của Bà Huyện Thanh Quan là một kiệt tác của nền thơ Nôm Việt Nam trong
thế kỉ XIX:
"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?".
Câu thơ đầu tả ánh hoàng hôn một buổi chiều viễn xứ. Hai chữ "bảng lảng" có
giá trị tạo hình đặc sắc: ánh sáng lờ mờ lúc sắp tối, mơ hồ gần xa, tạo cho bức
tranh một buổi chiều thấm buồn:
"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn".
Hai chữ "bảng lảng" là nhãn tự - như con mắt của câu thơ. Nguyễn Du cũng có
lần viết:
"Trời tây bảng lảng bóng vàng" (Truyện Kiều)
Chỉ qua một vần thơ, một câu thơ, một chữ thôi, người đọc cũng cảm nhận được
ngòi bút thơ vô cùng điêu luyện của Bà Huyện Thanh Quan.
Đối với người đi xa, khoảnh khắc hoàng hôn, buồn sao kể hết được? Nỗi
buồn ấy lại được nhân lên khi tiếng ốc (tù và) cùng tiếng trống đồn "xa đưa vẳng"
lại. Chiều dài (tiếng ốc), chiều cao (tiếng trống đồn trên chòi cao) của không gian
được diễn tả qua các hợp âm ấy, đã gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn lê
thê, một niềm sầu thương tê tái. Câu thơ vừa có ánh sáng (bảng lảng) vừa có âm
thanh (tiếng ốc, trống đồn) tạo cho cảnh hoàng hôn miền đất lạ mang màu sắc dân
dã:
"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn "
Phần thực và phần luận, các thi liệu làm nên cốt cách bài thơ được chọn lựa
tinh tế, biểu đạt một hồn thơ giàu cảm xúc. Ngư ông, mục tử, lữ khách... thế giới
con người được nói đến. Cảnh vật thì có ngàn mai, có gió và sương, có "chim bay
mỏi" ... Những thi liệu ấy mang tính chất ước lệ của thi pháp cổ (người thì có: ngư,
tiều; cảnh vật, cây cỏ, hoa lá thì có: phong, sương, mai, liễu, cánh chim chiều...)
nhưng với tài sáng tạo vô song: chọn từ, tạo hình ảnh, đối câu, đối từ, đối thanh, ở
phương diện nào, nữ sĩ cũng tỏ rõ một hồn thơ tài hoa, một ngòi bút trang nhã. Vì
thế cảnh vật trở nên gần gũi, thân thuộc với mọi con người Việt Nam. Cảnh vật
mang hồn người đậm đà bản sắc dân tộc.
Chiều tà, ngư ông cùng con thuyền nhẹ trôi theo dòng sông về viễn phố (bến
xa) với tâm trạng của một "ngư ông" - ông chài nhàn hạ, thoải mái. Động từ "gác
mái" biểu đạt một tâm thế nhàn của ngư ông đang sống ở miền quê, đã thoát vòng
danh lợi:
"Gác mái, ngư ông về viễn phố".
Cùng lúc đó, lũ trẻ đưa trâu về chuồng, trở lại "cô thôn", cử chỉ "gõ sừng"
của mục đồng thật hồn nhiên, vô tư, yêu đời.
"Gõ sừng mục tử lại cô thôn".
Đó là hai nét vẽ về con người, hai bức tranh tuyệt đẹp nơi thôn dã vô cùng
thân thuộc đáng yêu.
Hai câu luận tiếp theo mượn cảnh để tả cái lạnh lẽo, cô liêu, bơ vơ của người
lữ khách trên nẻo đường tha hương nghìn dặm. Trời sắp tối. Ngàn mai xào xạc
trong "gió cuốn"; gió mỗi lúc một mạnh. Cánh chim mỏi bay gấp về rừng tìm tổ.
Sương sa mù mịt dặm liễu. Và trên con đường sương gió ấy, lạnh lẽo ấy chỉ có một
người lữ khách, một mình một bóng đang "bước dồn" tìm nơi nghỉ trọ. Hai hình
ảnh "chim bay mỏi" và "khách bước dồn" là hai nét vẽ đăng đôi, đặc tả sự mỏi mệt,
cô đơn. Con người như bơ vơ, lạc lõng giữa “gió cuốn" và "sương sa", đang sống
trong khoảnh khắc sầu cảm, buồn thương ghê gớm. Câu thơ để lại nhiều ám ảnh
trong lòng người đọc. Đảo ngữ làm nổi bật cái bao la của nẻo đường xa miền đất
lạ:
"Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu, sương sa khách bước dồn".
Bằng sự trải nghiệm của cuộc đời, đã sống những khoảnh khắc hoàng hôn ở
nơi đất khách quê người, nữ sĩ mới viết được những câu thơ rất thực miêu tả cảnh
ngộ lẻ loi của kẻ tha hương hay đến thế!
Hai câu kết hội tụ, dồn nén lại tình thương nhớ. Nữ sĩ cảm thấy cô đơn hơn
bao giờ hết. Câu thứ bảy gồm hai vế tiểu đối, lời thơ cân xứng đẹp: "Kẻ chốn
Chương Đài người lữ thứ". Chương Đài là điển tích nói về chuyện li biệt, nhớ
thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời nhà Hán xa xưa. Bà Huyện
Thanh Quan đã vận dụng điển tích ấy một cách sáng tạo. "Chương Đài" và "lữ thứ"
trong văn cảnh gợi ra một trường liên tưởng về nỗi buồn li biệt của khách đi xa nhớ
nhà, nhớ quê hương da diết. Khép lại bài thơ là một tiếng than giãi bày một niềm
tâm sự được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. "Ai" là đại từ phiếm chỉ, nhưng ai
cũng biết đó là chồng, con, những người thân thương của nữ sĩ. "Hàn ôn” là nóng
lạnh, "nỗi hàn ôn" là nỗi niềm tâm sự. Người lữ thứ trong chiều tha hương thấy
mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi buồn thương không sao kể xiết:
"Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?".
"Chiều hôm nhớ nhà" và "Qua Đèo Ngang" hai kiệt tác thơ thất ngôn bát cú
Đường luật. Đó là chùm thơ của Bà Huyện Thanh Quan sáng tác trong những
tháng ngày nữ sĩ trên đường thiên lí vào kinh đô Huế nhận chức nữ quan trong
triều Nguyễn. Có thể coi đó là những bút kí - thơ vô cùng độc đáo. Thơ của Bà
Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay nói đến hoàng
hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán Việt (bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông,
viễn phố...) tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm bổng hấp dẫn.
"Chiều hôm nhớ nhà" là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương nhớ, bâng
khuâng,...
 





