Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ - Phạm Hồng Cư

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Huy Lượng
Ngày gửi: 16h:31' 01-07-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Huy Lượng
Ngày gửi: 16h:31' 01-07-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
Hisory E-Books: HD240406027
Compiled & Published by Rosea
(Rosea còng lµ 1 fan cña §¹i tíng VNG)
Cuèn s¸ch nµy lµ mét c¸ch thÓ hiÖn sù kÝnh träng cña t«i víi §¹i tíng.
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ
Chương I: Quê hương, gia đình và tuổi thơ .............................................................. 2
Ngày sinh ...................................................................................................................... 2
Gia đình ......................................................................................................................... 3
Quê hương.................................................................................................................... 6
Những năm tháng học tập........................................................................................... 8
Chương II: Tuổi thiếu niên......................................................................................... 10
Bạn bè cùng chí hướng ............................................................................................. 10
Gặp lại bài vè năm xưa.............................................................................................. 11
Truy điệu cụ Phan Chu Trinh .................................................................................... 16
Vo Nguyen Giap .......................................................................................................... 24
From Wikipedia, the free encyclopedia. ............................................................. 24
Biography .................................................................................................................... 25
External links .......................................................................................................... 28
An Officer and a Gentleman:......................................................................................... 28
General Vo Nguyen Giap as Military Man and Poet .................................................. 28
On the battle of Dien Bien Phu:............................................................................. 36
On the United States' involvement in Vietnam: ................................................... 36
On fighting technologically superior U.S. forces:................................................. 37
On the Ho Chi Minh Trail: ...................................................................................... 37
On the Tet Offensive: ............................................................................................. 38
On the U.S. leadership during the war: ................................................................ 38
Võ Nguyên Giáp và Điện Biên Phủ ........................................................................... 39
Vơ Nguyên Giáp: người "chiến sĩ" số 1........................................................ 46
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
.
Tối qua Đài THHN có chương trình "Bài ca chiến sĩ" (Em nhớ không chính xác tên chương trình
lắm), có giới thiệu về cuốn sách "Đại Tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ" của Trung tướng Phạm
Hồng Cư. Cuốn sách được in vào cuối năm 2004 nhân kỷ niệm 60 ngày thành lập QĐND Việt
Nam (22-12-1944 - 22-12-2004) và kỷ niệm lần sinh nhật thứ 93 của Đại tướng (25-8-1911 - 258-2004).
Chương I: Quê hương, gia đình và tuổi thơ
Ngày sinh
Hồi đầu thế kỷ XX, ở làng An Xá (trước là xã, sau là thôn, nay thuộc xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ
Thuỷ, tỉnh Quảng Bình) có một gia đình nhà nho nghèo làm ruộng. Ông huý là Võ Quang
Nghiêm, bà là Nguyễn Thị Kiên. Ông bà sinh hạ được bảy người con, Đại tướng Võ Nguyên
Giáp là người con thứ năm.
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
Võ Nguyên Giáp ra đời vào một mùa lụt, trong một cái lều cất tạm dưới gốc mít to như cổ thụ
trong vườn nhà. Thuở ấy, các cụ chỉ nhớ ngày sinh của con cái theo âm lịch, còn ngày sinh của
vng theo dương lịch thì sau này các nhà nghiên cứu phương Tây, mỗi người nói một cách. Ví
như bản chỉ dẫn về tiểu sử Võ Nguyên Giáp của Jean Sainteny (Notice biographique sur Vo
Nguyen Giap-Jean Sainteny) ghi là 1912. Từ điển Bách khoa Larousse ghi là 1911. Có những tác
giả ghi là 1910 như Boudarel hoặc James Fox. Trong cuốn “GIAP” do Nhà xuất bản Atlas-Paris
xuất bản năm 1977, Boudarel viết: “Sinh ở An Xá trong tỉnh Quảng Bình năm 1910”. Trên Tạp chí
Thời sự chủ nhật (The Sunday Times Magazine) số 5-11-1972, James Fox viết: “Ông sinh ngày
1-9-1910, một ngày tháng đáng ghi nhớ lại ở đây, chỉ vì một sự tình cờ kỳ lạ, tôi tìm thấy giấy khai
sinh của ông Giáp tại Paris và qua đó có thể giải quyết một lúng túng cho giới học giả cho rằng
ông sinh ra vào khoảng 1911, 1912”.
Tôi hỏi chị Đặng Bích Hà (phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp):
-Vậy năm nào là đúng?
-Năm 1911.
-Căn cứ vào đâu?
-Anh Giáp tuổi Hợi (Tân Hợi).
-Một lá số tử vi có không?
-Không. Mà có cũng không còn.
-Rất tiếc, tôi muốn xem người ta đoán như thế nào về số của anh Giáp. Còn ngày sinh?
-Ngày 25 tháng 8 dương lịch. Cũng tính từ “ngày ta” sang do bà (mẹ anh Giáp) nói và nhờ ông
Trần Văn Giáp tính hộ.
Gia đình
Họ Võ là một dòng họ lớn ở làng An Xá, từ đường ở cuối làng. Tiếc rằng gia phả nay không còn.
Cậu bé Giáp lớn lên không biết mặt ông nội, chỉ nghe nói là có đức lắm. Cụ ông huý là Võ Quang
Nghiêm, cụ bà là Bùi Thị Gái. Cậu bé nhớ bà nội lúc mất: Mặc áo tím, áo điều. Một hôm, ông
thầy cúng nói: “Bà ngồi trên mộ đấy”.
Gần đây cháu chắt mới tìm thấy mộ các cụ. Mộ cụ ông táng trên Trấm, sau làng An Sinh, ở
thượng nguồn bên hữu ngạn sông Kiến Giang, còn mộ cụ bà thì táng bên tả ngạn, ở một khuỷu
sông gọi là Hàm Rồng. Khi còn nhỏ, cậu bé Giáp nhiều lần theo thầy mẹ đi tảo mộ. Một thời gian
dài qua hai cuộc kháng chiến, việc viếng mộ thưa đi. Đến thế hệ chắt thì không còn biết đâu là
mộ nhà. Một hôm, ba người thuộc hàng chắt đi tảo mộ đến khu vực mộ cụ ông thì chỉ thấy nhiều
mộ giống nhau. May có một ông già đi tới nói:
-Không phải đất của ta đâu! Gia đình có phúc lắm mới gặp tôi. Mua thẻ hương khấn rồi tôi tìm
mộ cho.
Ông già dẫn đến một chỗ có vết đào mương, hào. Có trồng một cây lạ để đánh dấu gọi là cây
chim chim.
Nghe kể chuyện này, đích thân em trai Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Võ Thuần Nho về tìm. Võ
Thuần Nho đứng một chập, có một ông lão ra hỏi:
-Có phải ông Nho đấy không?
-Thưa phải.
-Thời kháng chiến ông dạy tôi múa đại đao, ông có nhớ không?
-…
-Có một dạo, người trong làng ra đào hầm hố ngay đầu mộ, tôi ra tôi cản đó.
Lúc đó Võ Thuần Nho mới tin.
Ông thân sinh của Võ Nguyên Giáp và Võ Thuần Nho học tài thi phận. Ông đã nhiều lần thi
hương cho tới khoá Mậu Ngọ (1918). Hồi ấy, các thí sinh phải đem lều chõng vào trường thi,
dựng tại chỗ đất trống dành cho mình để có nơi ngồi làm bài. Khác với Võ Nguyên Giáp sau này
nhiều lần đỗ thủ khoa, ông Nghiêm lều chõng bao lần thi không đậu. Tuy không đỗ đạt nhưng
ông Nghiêm là một nhà nho học có uy tín trong vùng. Ông vừa dạy học, vừa bốc thuốc. Ông
được xóm làng tôn trọng. Khi tế ở ngoài đình, tuy không phải là tiên chỉ, nhưng người ta thường
mời ông làm chủ tế. Cậu bé Giáp mỗi lần thấy thầy tắm nước lá bưởi, mặc áo tế là biết ông đi
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
làm chủ tế.
Ông giàu lòng thương người. Đêm hôm, có ai mời đi thăm bệnh, ông cũng đi. Ông dạy con cháu
trong nhà “thương người như thể thương thân”. Ông sống một cuộc đời giản dị, thanh bạch, có
nền nếp. Sáng nào cũng vậy, ông dậy đúng giờ, ăn ba bát cháo hoa hay cháo tấm, ăn với cà
hoặc muối ông gọi đấy là “sâm nhà nghèo”. Tôi đi ngủ, ông bắt cả nhà xoa chân tay cho nóng.
Tập quán này, Võ Nguyên Giáp còn giữ mãi cho tới sau này.
Ông Nghiêm chú ý giữ gìn nền nếp gia phong. Sự giáo dụ trong gia đình rất nghiêm khắc. Ăn
cơm xong, con cái rót nước hầu cha mẹ phải bưng hai tay, bưng một tay là thất lễ. Có khách đến
nhà, con gái không được lên nhà trên. Ông dạy chữ nho cho trẻ trong làng. Đến một lúc nào đó,
ông chuyển sang dạy Quốc ngữ, làm hương sư. Ông vừa dạy học vừa làm ruộng. Giao bài cho
trẻ xong, ông chèo “nôốc” (thuyền) đi thăm ló (lúa).
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bắt đầu, gia đình đi tản cử, ông còn đang thu xếp
một vài việc chưa kịp đi theo, thì giặc Pháp ập tới. Chúng càn quét lùng bắt ông, đưa ông về
giam ở Huế. Ông bị tra tấn dã man. Có người trông thấy ông bị chúng buộc tay vào đằng sau xe
gíp (Jeep). Gia đình không biết ông sống chết ra sao.
Hơn bốn mươi năm sau, khi sưu tầm những tư liệu về gia đình, tôi tìm thấy một bức thư mà gia
đình còn lưu giữ được. Thư đã cũ, giấy học trò đã ngả màu vàng, nét chữ trẻ em to, nắn nót, viết
bằng mực tím:
Mẹ có mấy lời thăm con: Giáp và Hà.
Mẹ mong con cho được mạnh khoẻ luôn luôn thì Mẹ mừng lắm. Còn Mẹ và Anh cũng được
thường nhưng mà thua lúc ở nhà nhiều lắm, nhưng chuyện nhà nhiều chuyện đắng cay, của tiền
không kể, nhưng nhứt là không biết. Thầy có còn hay không thì Mẹ buồn lắm. Mẹ mong sao cho
gặp được hai con, cho đỡ buồn còn Anh có thường thường khi đâu trở trời có ho và mệt độ vài ba
hôm thì khoẻ ở mình.
Bức thư không đề ngày tháng, nhưng chắc chắn là viết vào thời gian đầu cuộc kháng chiến, gửi
từ nơi tản cư ở Quảng Bình ra Việt Bắc… Bà nội đọc cho cháu Hồng Anh (Hồng Anh: con gái
đầu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) viết.
Mãi về sau, gia đình mới có tin là ông đã mất trong nhà tù ở Huế. Sau ngày thống nhất nước
nhà, con cháu đi tìm mộ ông và năm 1979, bốc mọ, đưa hài cốt về chôn cất tại nghĩa trang liệt sĩ
huyện Lệ Thuỷ.
Võ Nguyên Giáp giống mẹ: Bà mẹ đã ban cho Võ Nguyên Giáp cả vóc người, gương mặt và đôi
mắt thông minh. Những ai đã có dịp gặp bà đều nhận ngay ra vóc người thấp đậm của Võ
Nguyên Giáp là vóc người của bà. Gương mặt tròn, trắng trẻo của Võ Nguyên Giáp là gương
mặt của bà. Đặc biệt là đôi mắt: Một đôi mắt vừa hồn nhiên nhân hậu như mắt trẻ thơ, vừa
cương nghị như có ánh thép và sắc sảo long lanh trí tuệ. Về đôi mắt của Võ Nguyên Giáp, sau
này có một lần, một nữ ký giả phương Tây-bà Oriana Fallaci-khi phỏng vấn Đại tướng Võ
Nguyên Giáp đã nhận xét: “Đôi mắt thông minh nhất mà tôi chưa từng thấy!”.
“Hiền lành là bà”-Võ Nguyên Giáp nói về người mẹ của mình như vậy. Cậu bé Giáp yêu thương
mẹ, còn đối với ông thân thì cậu kính nể và sợ. Ông dạy con rất nghiêm mà cậu thì hay nghịch.
Mỗi khi ông mắng còn thì bà đứng ra đỡ lời.
Bà lo việc ruộng vườn nội trợ. Thời gian đầu, bà còn đi chợ, ra ruộng. Sau này khi hai cô con gái
đã lớn (chị Điềm và chị Liên), các chị chèo đò đi buôn vặt để đỡ đần cho cha mẹ thì bà lo việc
cơm nước ở nhà. Khi hai chị đi lấy chồng và hai anh em Võ Nguyên Giáp, Võ Thuần Nho đi học
xa, hai ông bà sống với côn con gái út tên là Võ Thị Lài.
Năm 1952, bà ra Việt Bắc và sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thành công, bà về Hà Nội
sống với con cháu. Năm 1961, bà mất.
Khác với các gia đình ở Quảng Bình, trong gia đình ông Nghiêm, con cái gọi cha mẹ là thầy,
thím.
Tôi hỏi:
-Tại sao?
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
Anh Võ Thuần Nho trả lời:
-Cả huyện, cả làng gọi ông là thầy, trong nhà cũng gọi là thầy.
-Thế tại sao gọi mẹ là thím?
Chị Đặng Bích Hà đưa ra một giả thuyết:
-Phải chăng do anh Toại, chị Châu mất sớm, gia đình kiêng, gọi tránh đi cho dễ nuôi con.
Bà cụ đã kể lại cho chị Đặng Bích Hà: Người anh cả tên là Toại, thông minh khôi ngô cực kỳ.
Anh học chữ Hán, giỏi như thần đồng làm cho thầy mẹ hoảng sợ, bắt uống mực Tàu cho tối dạ
bớt đi. Nhưng cũng không giữ được anh. Một cơn dịch tả tràn qua làng, anh mắc bệnh. “Thầy ơi!
Cứu con với!”. Thầy biết làm thuốc nhưng bệnh nặng, không cứu được. Anh qua đời vào lúc lên
bảy lên tám. Sau anh Toại là chị Châu, sinh được một năm thì vừa trận lụt năm Thìn. Lũ lớn tràn
về đột ngột, ngập cái “tra” (gác để cất lúa). Nước cuốn trôi cả hai mẹ con. Tóc mẹ dài quấn vào
bụi tre, thầy cứu được. Chị Châu mất không có mộ. Sau này Võ Thuần Nho về đắp cho chị một
cái mộ gió bên cạnh mộ anh Toại.
Hai người chị trên Võ Nguyên Giáp là chị Điểm và chị Liên, lớn lên vừa làm ruộng vừa chạy chợ.
Không có vốn buôn bán, hai chị chỉ buôn ít cá, ít đường phèn, mua chợ nọ, bán chợ kia. Chị
Điểm cũng bị giặc Pháp bắt sau khi được tha, lên chiến khu thì mất ở đó. Chị Liên mất trước
năm 1930. Ông cụ cũng bốc thuốc chữa chạy nhưng chị Liên không qua khỏi. Sau khi chị Liên
mất, ông cụ bỏ nghề làm thuốc.
Thuở ấy, đàn bà con gái ít được học hành. Cả nhà dồn sức cho hai anh em Võ Nguyên Giáp và
Võ Thuần Nho ăn học nên người. Tuy nhiên có lúc nhà nghèo túng đến nỗi Võ Thuần Nho phải
bỏ học, đi làm nghề thợ may kiếm sống, đỡ đần cho cha mẹ. Võ Thuần Nho làm nghề may đã
đến trình độ được lễ tổ.
Võ Thuần Nho kể:
“Đèn hương xôi gà cúng xong, xâu kim một lần phải qua”. Lẽ ra Võ Thuần Nho tiếp tục làm thợ
may, nhưng hai lần Võ Nguyên Giáp gọi em vào Huế và ra Hà Nội để tiếp tục học cho đến tú tài.
Võ Thuần Nho sau này là Thứ trưởng Bộ Giáo dục.
Cô em út là Võ Thị Lài sau này là nhân viên coi kho của một cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp.
Gia đình ông Nghiêm không có ruộng tư, chỉ cày cấy số ruộng công do làng cấp. An Xá có chế
độ chia công điền từ xưa để lại. Ba năm chia lại một lần. Mỗi lần chia ruộng là mỗi lần tranh
giành nhau ghê gớm. Cả làng họp tại nhà ông thủ bạ, giết lợn, chè chén rồi “bắt” ruộng. Lượt đầu
được một mẫu (mẫu Trung bộ bằng nửa héc ta), lượt thứ hai được một mẫu, lượt thứ ba được
năm sào, chia theo tam đẳng điền và theo suất đinh.
Gia đình ông Nghiêm được chia hai mẫu rưỡi: Một mẫu đệ nhất đẳng, một mẫu đệ nhị đẳng,
năm sào đệ tam đẳng. Có lần được ruộng gần nhà, có lần phải ruộng xa nhà, gần phá Hạc Hải,
nước sâu.
Chia rồi, ai có vốn, có sức thì làm, không có thì, cầm, bán. Những gia đình giàu có thâu tóm hết
ruộng đất của bà con nghèo.
Gia đình ông Nghiêm bán một mẫu rưỡi loại đệ nhị, đệ tam đẳng để thuê người làm mẫu ruộng
đệ nhất đẳng.
Trong nhà phải đi vay mới đủ: Cầm đất cho ông Bá Lạng, vay nợ lãi của ông Khoá Uy. Khoá Uy
là một Hoa kiều giàu có ở trên chợ Hôm, có tiền cho cả huyện vay. Vay bằng tiền nhưng ghi nợ
bằng thóc, khi trả tính cả vốn lẫn lời. Ai không trả được thì bị Khoá Uy phái bọn lưu mạnh, bọn
nghiện hút đến đòi. Bọn họ ngồi chỗm trệ giữa phản hoặc leo lên nóc nhà, réo tên chủ nhà ra mà
chửi.
Cậu bé Giáp nhiều lần được theo cha đi thăm lúa. Cánh đồng hai huyện bát ngát “cò bay thẳng
cánh”. Vùng này có câu: “Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện” (là huyện Lệ Thuỷ và huyện Quảng
Ninh). Ruộng khô cấy lúa ven, gạo gie, ruộng sâu cấy giống su, gạo đỏ.
Ngày mùa có phường gặt về là niềm vui của lũ trẻ. Các chị dậy từ ba giờ sáng nấu cơm cho
phương gặt.
Niềm vui ngày mùa của cậu bé Giáp không trọn vẹn. Nhiều lần cậu theo mẹ chèo “nôốc” đi trả
nợ. Cậu nhớ nhất cái bến nhà ông Phó Sương trên Tuy Lộc có cây gạo to. Trời nắng. Mẹ đội
thóc chạy lên chạy xuống, còn cậu thì ngồi từ sáng đến trưa dưới “nôốc” để giữ thóc. Ông Phó
Sương dùng cái quạt Tàu to tướng, quạt mạnh cho bay hết hột lép, chỉ lấy hột chắc.
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
Những cuộc chia ruộng, những khái niệm vay, trả gắn liền với những ông Phó, ông Bá, ông
Khoá… đã gieo điều gì vào đầu óc cậu bé?
Hai mươi năm sau (năm 1937), Võ Nguyên Giáp viết trong cuốn Vấn đề dân cày (viết chung với
Trường Chinh dưới hai bút danh là Qua Ninh và Vân Đình): “Sống dưới chế độ bóc lột phòng
không-tư bản (exploitation féodo capitaliste) dân cày Đông Dương quá điêu linh xờ xạc…”.
Lần đầu tiên cậu bé Giáp nghe chuyện đánh Tây là câu chuyện Cần Vương do bà mẹ kể. Bà kể
rằng khi bà còn nhỏ, kinh đô Huế thất thủ. Điện tiền thượng tướng quân Tôn Thất Thuyết phò
vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Bình. Có tin đồn nhà vua ngự trên thượng đạo xa lắm. Vua xuống
chiếu Cần Vương, kêu gọi các sĩ phu và dân chúng chống giặc Pháp.
Ông ngoại theo Văn thân làm đến chức Đề đốc coi đại đội tiền vệ. Ông bị giặc Pháp bắt. Chúng
đánh đập, doạ bắn, nhưng ông một mực không khai, sau chúng phải thả.
Cậu bé Giáp được mẹ đưa về quê ngoại bên Mỹ Đức hầu thăm ông ngoại. Ông ngoại râu tóc
bạc phơ, phương phi quắc thước. Ông rất yêu cậu bé, ôm cậu vào lòng. Cậu bé chú ý vùng ấy
có cái đền Chiêm Thành, có Phật bằng vàng. Cậu bé thích chạy theo người cậu săn bắn rất giỏi.
Bắn giỏi là một truyền thống của gia đình bên ngoại.
Bà mẹ kể chuyện chạy giặc. Khi bà còn nhỏ, mỗi lần Tây về, bà và người dì ngồi trong thúng
người lớn quẩy đi tránh giặc. “Tây đi, lại về. Giặc Tây tàn ác lắm”-Bà nói.
Đêm nằm ngủ với thầy, cậu bé nghe ông thân kể chuyện chống Pháp qua một bài vè rất phổ cập
trong dân gian thời bấy giờ là bài vè Thất thủ kinh đô. Cả nhà khâm phục tấm gương trung quân
ái quốc của Tôn Thất Thuyết, ghét cay ghét đắng gian thần Nguyễn Văn Tường.
Bài vè Thất thủ kinh đô và câu chuyện Cần Vương có phải là tia sáng đầu tiên? Ấn tượng về một
vị tướng đánh giặc in sâu trong tâm trí cậu bé là ông thần thờ trong ngôi miếu cổ ở xóm ngoài.
Ông đi chống giặc, bị giặc chém đứt cổ, chỉ còn dính da, vẫn đàng hoàng cưỡi ngựa về đến làng.
Gặp một bà hái rau, ông hỏi:
-Rau muống bẻ ra có sống không?
Bà hái rau trả lời:
-Rau muống rỗng, bẻ ra không sống.
Ông ngã ra chết. Dân chúng lập miếu thờ. Nghe nói ông thiêng lắm, trẻ con đi qua miếu không
dám nghịch.
Quê hương
Quảng Bình nhìn trên bản đồ Việt Nam ở vào đoạn thắt đáy lưng ong của hình đất nước. Đó là
một dải đất hẹp, có dãy Trường Sơn vươn ra biển: Đó là Hoành Sơn. Con đường thiên lý xuyên
Việt ngoằn ngoèo trèo lên núi tạo nên Đèo Ngang, một thắng cảnh nổi tiếng. Từ xa xưa, nơi đây
đã in dấu chân của nhiều danh nhân đất nước. Tới Đèo Ngang ngắm cảnh trời non nước, chợt
nhớ tới mảnh tình riêng của Bà Huyện Thanh Quan:
… Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại, trời non nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Ngắm cửa biển Nhật Lệ, chợt nhớ tới nỗi buồn của Nguyễn Du:
Buồn trông cửa biển chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
Quảng Bình là một vùng đất lịch sử. Năm 1306, công chúa Huyền Trân ra đi làm dâu vương
quốc Chămpa, mở ra cho vùng biên trấn phía Nam nước Đại biệt hai châu Ô và Lý. “Quảng Bình
là đất Ô châu”. Trên đất Quảng Bình còn nhiều di tích văn hoá Chiêm Thành. Nhiều sự kiện lịch
sử của đất nước còn in đậm dấu trên vùng đất Quảng Bình.
Luỹ Thầy ai đắp mà cao,
Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu!
Câu ca dao lắng đọng nỗi đắng cay của hai thế kỷ đất nước bị chia cắt thành Đàng Trong và
Đàng ngoài dưới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, lấy sông Gianh làm ranh giới. Kể từ tháng 11-
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
1558, khi Nguyễn Hoàng xin vào làm trấn thủ Thuận Hoá để tránh bàn tay ám hại của người anh
rể là Trịnh Kiểm cho đến tháng 7-1786, khi nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của tiết chế
Nguyễn Huệ đánh chiếm Phú Xuân rồi tiến thẳng ra Thăng Long, đưa hai miền đất nước trở về
một mối, thì đằng đẵng hơn hai thế kỷ đất nước bị chia cắt.
Còn Luỹ Thầy thì ai đắp? Đó là quan nội tán Đào Duy Từ (1572-1634) được người đương thời
gọi bằng “Thầy”. Ông học rộng, tài cao nhưng không được đi thi chỉ vì cha là Đào Bá Hán làm
nghề hát xướng nên đã bỏ Lê-Trịnh trốn vào Nam theo chúa Nguyễn. Qua 4 thế kỷ, công trình
kiến trúc quân sự này bị bào mòn, nhưng trong dân gian còn lưu lại ấn tượng về sự hiểm yếu
của nó: “Nhứt sợ Luỹ Thầy, nhì sợ bãi lầy Võ Xá”.
Bước vào lịch sử hiện địa, nhiều vùng đất Quảng Bình là căn cứ chống Pháp của nghĩa quân
Cần Vương. Dân chúng còn lưu lại hình tượng của hai ông: Ông Văn và ông Võ ở hai khối đá
lớn trên hòn Lèn Bảng. Ông Văn là hoàng giáp Phạm Duy Đôn, ông Võ là đề đốc tiến sĩ Lê Trực,
chỉ huy nghĩa quân Cần Vương ở Bắc Quảng Bình năm 1885-1888.
Trong hai cuộc kháng chiến, nhiều tên đất, tên người đã làm sống động truyền thống đấu tranh
bất khuất của Quảng Bình: Xuân Bồ với anh hùng Lâm Uý; làng chiến đấu Cự Nẫm, làng biển
Cảnh Dương, làng đảo La Hà; động Phong Nha và đường 20 một điểm xuất phát của đường
mòn Hồ Chí Minh, thị xã Đồng Hới, động cát Bảo Ninh, dòng sông Nhật Lệ với bà mẹ Suốt và
những nữ anh hùng nổi tiếng thời chống Mỹ…
Tuổi thơ của Võ Nguyên Giáp gắn liền với làng quê An Xá bên dòng sông Kiến Giang.
Sông Kiến Giang bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, qua vùng núi An Mã, tưới cho đồng bằng hai
huyện, nhập vào phá Hạc Hải rồi đổ ra cửa Nhật Lệ. Hai bờ sông bên lở bên bồi.
An Xá nằm bên bồi. Bên lở gọi là “bơợc” thuộc xã khác. Con đường làng ven theo men sông,
thuở cậu Giáp còn nhỏ, cây cối ven đường làng rậm rạp như rừng. Có những cây nghiêng mình
rủ tóc xuống mặt nước gọi là “cừa” nom rất đẹp. Dưới bến, đậu san sát những chiếc thuyền gọi
là “nôốc”. Theo dân làng kể lại, một số viên đá tảng to kê làm bậc lên xuống ở bờ sông Kiến
Giang là đá lấy ở chân thành nhà Ngo (Ninh Viễn thành) một di tích của người Chiêm Thành, ở
cách phía Nam huyện lỵ Lệ Thuỷ một cây số.
Từ An Xá đi lên huyện lỵ phải ngược dòng sông Kiến Giang qua các làng trên: Tuy Lộc, Đại
Phong, Thượng Phong. Mẹ và các chị đi chợ huyện bằng đò dọc. Ngược dòng lên thượng nguồn
là nơi gia đình thường đi tảo mộ ở chân núi An Mã.
Xuôi dòng qua làng dưới là An Lạc, có nhà thờ đạo. Thuở ấy, trẻ con làng An Xá ghét trẻ con
làng đạo, thường xẩy ra đánh nhau.
Theo đò dọc xuôi về Đồng Hới, gặp một cái phá rộng: Phá Hạc Hải. Nước từ nguồn An Sinh,
Cẩm Ly đổ về, trăm dòng tụ lại, mặt phá rộng mênh mông như biển, lấp loá ánh nắng. Xung
quanh là động cát trắng phau, phía Tây… sừng sững một bức núi Đầu Mâu trầm mặc. Cậu bé
Giáp nhiều lần được theo thầy hoặc các chị đi đò dọc xuôi xuống Hạc Hải vớt rong đem về bón
khoai trồng trong vườn nhà. Rong Hạc Hải bón vào cây gì cũng tốt. Dân An Xá còn khai thác cói
ở phá Hạc Hải đem về dệt chiếu:
“Chiếu cói An Xá, nón lá Quy Hậu”.
An Xá đối với cậu bé Giáp là một cái làng đầy vườn mà vườn là thiên đường của trẻ nhỏ. An Xá
có ba xóm: Xóm trong, xóm giữa, xóm ngoài… Mái nhà tranh chìm trong vườn xum xuê cây trái.
Hai đầu làng có những “lòi” là những lùm cây rậm rạp, có những “hói” bí hiểm. Giữa xóm trong và
xóm giữa có một bãi hoang gọi là “đờng đờng”, có cây bún có nhiều ma.
Chỉ có vườn là thích. Vườn trước có cây mít to như cổ thụ và nhiều cây cam giấy. Vườn sau
trồng chuối, có cây ổi, cây bồ kết, cây đào tiên, hai cây khế ngọt, chim cu xanh thường về ăn. Mẹ
chăm sóc cây trái trong vườn, mùa nào thức nấy đem bán ở chợ Tréo, chợ Chè.
Nhưng vườn hàng xóm còn hấp dẫn hơn. Vườn nhà mụ Thơ có cây bưởi. Một trò nghịch của lũ
trẻ cùng học chữ Nho với cậu bé Giáp là nhân lúc thầy đi thăm lúa, bọn chúng rủ nhau chui qua
rào vào vườn nhà mụ Thơ hái trộm bưởi đem vè chén. Cái trò nghịch này, thầy mà biết thì chết
đòn. Thầy có tiếng là nghiêm, nhưng lũ trẻ nghịch vẫn hoàn nghịch.
Một trò nghịch táo bạo hơn là chui ra khỏi vườn sau, vượt qua mấy cái ruộng mạ (gọi là “trưa”) đi
tới cái “bộng” (ao) bên ruộng nước. Đường đi ra “bộng” có cây mưng lá ăn chát chát. Đứng ở
“bộng” nhìn ra xa, đồng ruộng bát ngát đến chân trời. “Bộng” là thiên đường của lũ trẻ, nơi chúng
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
bắt cá, được vài con cá là sung sướng vô cùng.
Đối với cậu bé Giáp, những giờ phút đùa nghịch với lũ bạn như vậy quả là thích thú, mặc dầu
cậu biết rằng về nhà thế nào cũng bị phạt, bị mắng và có khi còn bị roi vọt. Có một lần, ông
Nghiêm vớ lấy cây sào chống cửa, cậu bé phải chui xuống dưới bàn thờ, xin tha.
Nói chuyện cây sào chống cửa vì cửa nhà ông Nghiêm ghép bằng lá kè, dùng sào chống lên, tối
sập lại.
Đây là một căn nhà ba gian hai chái lợp tranh, có nhà ngang làm bếp. Gian phải phía Đông là
buồng của đàn bà con gái, có kê một cái rương của bà mẹ. Gian giữa đặt bàn thờ gia tiên, có bộ
phản gỗ và bộ trường kỷ bằng tre. Gian trái kê giường nằm của thầy, có một cái tủ từ xưa để lại.
Chái phía Tây là nơi trẻ học và thầy coi sách.
Trong nhà trang trí giản dị: Nơi thầy đọc sách có treo đôi câu đối bằng vải tây điều. Trước bàn
thờ dán những thiếp đỏ “Cung chúc tân niên” có bút tích người đề tặng.
Một hôm thầy bảo:
-Mấy cái thiếp này phải cất đi. Những người này can Văn thân đang bị truy nã.
Trước nhà có cái sân đất gọi là “cươi” khá rộng, đến mùa xuân lấy đất ruộng về rải trồng rau cải.
Ngăn sân với vườn có một cái bình phong gạch. Trước bình phong là bể cạn cây si, bồn hoa cây
cảnh do ông Nghiêm tự tay chăm chút: Mẫu đơn, thạch lựu, vạn thọ, hoa trang, hoa huệ. Có một
cây mai vàng, một cây sám trồng làm thuốc đắng ghê gớm.
Mỗi khi trời nắng, cây trong vườn in bóng xuống sân, rung rinh đưa đi đưa lại. Không gian đầy
tiếng chim hót, dăm ba con bướm lượn ngoài vườn.
Những năm tháng học tập
Cậu Giáp học chữ Nho với thầy. Cậu cùng với em trai và năm sáu đứa bạn ngồi ê a trên chiếc
chiếu.
Ông Nghiêm tuy nghiêm khắc nhưng rất thương con. Nghiêm khắc giữ gìn gia phong theo khuôn
phép đạo Khổng. Thương con, thương mấy đứa trẻ thông minh đĩnh ngộ.
Dạy cho anh em Giáp và lũ trẻ trong làng học chữ Nho, ông bảo:
-Đây là chữ của thánh hiền, các con không được nghịch, không được giẫm lên sách, phải đội lên
đầu để tỏ lòng tôn kính.
Ông dạy theo Tam tự kinh và Ấu học tân thư. Bộ sách Ấu học tân thư xuất bản dưới thời vua
Duy Tân, gồm nhiều quyển.
Ấn tượng ban đầu in sâu mãi mãi. Đến tuổi tám mươi, Võ Nguyên Giáp vẫn còn nhớ. Một hôm,
ông đọc cho chúng tôi nghe:
Thiên thượng địa hạ
Nhật trú nguyệt dạ…
(Trên trời dưới đất
Mặt trời ban ngày, mặt trăng ban đêm)
Trong Ấu học tân thư có đoạn nói về đất nước:
Ngô tổ Hồng Bàng thị
Triệu Thuỷ, Kinh Dương Vương
Tích Kinh Bắc thuộc thì
Cựu sỉ dĩ nan vong
(Tổ ta là Hồng Bàng
Triệu Thuỷ, Kinh Dương Vương
Sự tích thời Bắc thuộc
Mối nhục cũ khó quên)
Có chỗ nói:
Phong tuy độc bất thích đồng quần
Hổ tuy bạo bất thực đồng loại
(Ong tuy độc không đốt trong đàn
Hổ tuy ác không ăn đồng loại)
Đoạn nói về chiến công xưa, có câu “Chi Lăng tẩu Tống binh”, Võ Nguyên Giáp nói:
-Tẩu nghĩa là chạy, nhưng đây nghĩa là đuổi, chữ có nghĩa rất mạnh.
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
Chi Lăng tẩu Tống binh
Bạch Đằng phá Nguyên sư
(Chi lăng đuổi quân Tống
Bạch Đằng phá Nguyên sư)
Mấy cuốn sau nói về Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Riêng đoạn về Tây Sơn và Quang Trung thì bị nói xấu
mà đề cao Nguyễn Ánh.
Ấu học tân thư là cuốn vỡ lòng có ảnh hưởng đối với cậu bé và cũng là vốn chữ hán đầu tiên của
Võ Nguyên Giáp.
Học lớp Đồng ấu, cậu bé phải đi học ở trường Tổng trên Tuy Lộc. Tuy Lộc là làng trên, lớn hơn
làng An Xá, có chợ gọi là chợ Hôm, có ty rượu của chủ Tây gọi là Sica. Ngày lễ, Tết Tây, học
sinh phải sang hát cho Tây nghe. Thầy dạy học tên là Khoát, học trò không trọng vì thầy nịnh
Tây.
Cậu Giáp học giỏi. Sáng đi chiều về cùng với thằng Hoằng, trưa ở lại, mỗi đứa được một tiền để
mua bánh ở chợ. Có khi bới đi một mo cơm, trong đó có con tôm. Thằng Hoằng lớn tuổi hơn
nhưng là cháu, gọi cậu Giáp bằng chú. Học lớp ba, cậu bé phải đi trọ học trên trường huyện.
Phải đi đò dọc lên huyện lỵ Lệ Thuỷ. Đã nhiều lần, cậu bé được các chị cho đi theo lên huyện
xem xinê. Chợ huyện đông vui, phố huyện sầm uất. Và đi đò dọc quả thật là thích.
Nhưng lần này… Lần này đi đò dọc với mẹ, cậu bé không vui, lòng cậu nặng trĩu. Cậu biết rằng
mẹ đi chợ huyện xong là mẹ về, còn cậu thì phải ở lại một mình nhà ông gì đó để trọ học. Xa mẹ.
Điều đó, cậu bé không chịu nổi!
Đò đã đi qua mũi Viết, gần tới huyện rồi. Khi lên phố huyện, mẹ dẫn cậu bé đến nhà trọ, dỗ dành:
-Con ở lại đây, thím về. Hôm sau, thím đón.
-Không! Không! Không!
Cậu oà lên khóc. Cậu túm áo mẹ, cậu chạy theo mẹ xuống đò. Cậu giẫm chân, ôm lấy mẹ. Mẹ
đành phải cho cậu về theo. Nhưng khi về đến đầu nhà thì cậu bé len lét sợ, chùn lại. Cậu lảng
vảng ở ngoài vườn, chờ mẹ vào thưa trước với thầy. Không biết mẹ nói gì, không thấy thầy rầy
la mà gọi vào. Hôm sau, cậu bé thuận đi và ở lại trọ học. Học lớp ba trên trường huyện, cậu bé
luôn luôn đứng đầu lớp.
Xong lớp ba, phải lên trường tỉnh học. Đồng Hới, tỉnh lỵ của Quảng Bình là một thị xã xinh xắn
bên bờ sông Nhật Lệ. Bao quanh thị xã là một toà thành cổ xây dựng từ năm Gia Long thứ 10
(1812) đến năm Minh Mạng thứ 5 (1824) thì được xây dựng lại bằng gạch. Các mặt thành có cửa
cuốn thông ra ngoài bằng những cây cầu gạch. Bốn phía thành có hào sâu đầy nước. Đối diện
với thành cổ Đồng Hới, bên kia sông là những động cát trắng phau nhấp nhô, những làng chài in
hình trên một cảnh biển, trời, mây, nước. Đứng bên động cát nhìn lại thì toàn cảnh Đồng Hới
hiện ra hùng vĩ lạ thường: Núi Đầu mâu, núi Ba Rền dường như nhích lại gần toà thành cổ, cùng
soi bóng xuống dòng sông Nhật Lệ lung linh dáng núi, mây trời. Đã bao lần cậu bé đứng sững sờ
ngắm cảnh đẹp lộng lẫy của quê hương.
Cậu ở trọ tại nhà ông Ký Xiển, một người quen của gia đình. Ông Ký Xiển nghiện thuốc phiện,
người gầy đét gối chiếc gối xếp nằm dài bên bàn đèn, trên sập gụ. Ông có vẻ khó tính nhưng
thực ra rất tốt. Ông coi cậu bé như con cháu trong nhà, không lấy tiền trọ, còn tiền thì đến mùa,
mẹ hoặc chị chèo đò chở thóc lên trả tiền ăn cả năm cho cậu.
Đốc học trường tỉnh là thầy Phạm Phú Lượng, thầy giáo dạy học là thầy Đào Duy Anh, hai thầy
được học trò kính mến.
Cậu G...
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
Hisory E-Books: HD240406027
Compiled & Published by Rosea
(Rosea còng lµ 1 fan cña §¹i tíng VNG)
Cuèn s¸ch nµy lµ mét c¸ch thÓ hiÖn sù kÝnh träng cña t«i víi §¹i tíng.
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ
Chương I: Quê hương, gia đình và tuổi thơ .............................................................. 2
Ngày sinh ...................................................................................................................... 2
Gia đình ......................................................................................................................... 3
Quê hương.................................................................................................................... 6
Những năm tháng học tập........................................................................................... 8
Chương II: Tuổi thiếu niên......................................................................................... 10
Bạn bè cùng chí hướng ............................................................................................. 10
Gặp lại bài vè năm xưa.............................................................................................. 11
Truy điệu cụ Phan Chu Trinh .................................................................................... 16
Vo Nguyen Giap .......................................................................................................... 24
From Wikipedia, the free encyclopedia. ............................................................. 24
Biography .................................................................................................................... 25
External links .......................................................................................................... 28
An Officer and a Gentleman:......................................................................................... 28
General Vo Nguyen Giap as Military Man and Poet .................................................. 28
On the battle of Dien Bien Phu:............................................................................. 36
On the United States' involvement in Vietnam: ................................................... 36
On fighting technologically superior U.S. forces:................................................. 37
On the Ho Chi Minh Trail: ...................................................................................... 37
On the Tet Offensive: ............................................................................................. 38
On the U.S. leadership during the war: ................................................................ 38
Võ Nguyên Giáp và Điện Biên Phủ ........................................................................... 39
Vơ Nguyên Giáp: người "chiến sĩ" số 1........................................................ 46
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
.
Tối qua Đài THHN có chương trình "Bài ca chiến sĩ" (Em nhớ không chính xác tên chương trình
lắm), có giới thiệu về cuốn sách "Đại Tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ" của Trung tướng Phạm
Hồng Cư. Cuốn sách được in vào cuối năm 2004 nhân kỷ niệm 60 ngày thành lập QĐND Việt
Nam (22-12-1944 - 22-12-2004) và kỷ niệm lần sinh nhật thứ 93 của Đại tướng (25-8-1911 - 258-2004).
Chương I: Quê hương, gia đình và tuổi thơ
Ngày sinh
Hồi đầu thế kỷ XX, ở làng An Xá (trước là xã, sau là thôn, nay thuộc xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ
Thuỷ, tỉnh Quảng Bình) có một gia đình nhà nho nghèo làm ruộng. Ông huý là Võ Quang
Nghiêm, bà là Nguyễn Thị Kiên. Ông bà sinh hạ được bảy người con, Đại tướng Võ Nguyên
Giáp là người con thứ năm.
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
Võ Nguyên Giáp ra đời vào một mùa lụt, trong một cái lều cất tạm dưới gốc mít to như cổ thụ
trong vườn nhà. Thuở ấy, các cụ chỉ nhớ ngày sinh của con cái theo âm lịch, còn ngày sinh của
vng theo dương lịch thì sau này các nhà nghiên cứu phương Tây, mỗi người nói một cách. Ví
như bản chỉ dẫn về tiểu sử Võ Nguyên Giáp của Jean Sainteny (Notice biographique sur Vo
Nguyen Giap-Jean Sainteny) ghi là 1912. Từ điển Bách khoa Larousse ghi là 1911. Có những tác
giả ghi là 1910 như Boudarel hoặc James Fox. Trong cuốn “GIAP” do Nhà xuất bản Atlas-Paris
xuất bản năm 1977, Boudarel viết: “Sinh ở An Xá trong tỉnh Quảng Bình năm 1910”. Trên Tạp chí
Thời sự chủ nhật (The Sunday Times Magazine) số 5-11-1972, James Fox viết: “Ông sinh ngày
1-9-1910, một ngày tháng đáng ghi nhớ lại ở đây, chỉ vì một sự tình cờ kỳ lạ, tôi tìm thấy giấy khai
sinh của ông Giáp tại Paris và qua đó có thể giải quyết một lúng túng cho giới học giả cho rằng
ông sinh ra vào khoảng 1911, 1912”.
Tôi hỏi chị Đặng Bích Hà (phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp):
-Vậy năm nào là đúng?
-Năm 1911.
-Căn cứ vào đâu?
-Anh Giáp tuổi Hợi (Tân Hợi).
-Một lá số tử vi có không?
-Không. Mà có cũng không còn.
-Rất tiếc, tôi muốn xem người ta đoán như thế nào về số của anh Giáp. Còn ngày sinh?
-Ngày 25 tháng 8 dương lịch. Cũng tính từ “ngày ta” sang do bà (mẹ anh Giáp) nói và nhờ ông
Trần Văn Giáp tính hộ.
Gia đình
Họ Võ là một dòng họ lớn ở làng An Xá, từ đường ở cuối làng. Tiếc rằng gia phả nay không còn.
Cậu bé Giáp lớn lên không biết mặt ông nội, chỉ nghe nói là có đức lắm. Cụ ông huý là Võ Quang
Nghiêm, cụ bà là Bùi Thị Gái. Cậu bé nhớ bà nội lúc mất: Mặc áo tím, áo điều. Một hôm, ông
thầy cúng nói: “Bà ngồi trên mộ đấy”.
Gần đây cháu chắt mới tìm thấy mộ các cụ. Mộ cụ ông táng trên Trấm, sau làng An Sinh, ở
thượng nguồn bên hữu ngạn sông Kiến Giang, còn mộ cụ bà thì táng bên tả ngạn, ở một khuỷu
sông gọi là Hàm Rồng. Khi còn nhỏ, cậu bé Giáp nhiều lần theo thầy mẹ đi tảo mộ. Một thời gian
dài qua hai cuộc kháng chiến, việc viếng mộ thưa đi. Đến thế hệ chắt thì không còn biết đâu là
mộ nhà. Một hôm, ba người thuộc hàng chắt đi tảo mộ đến khu vực mộ cụ ông thì chỉ thấy nhiều
mộ giống nhau. May có một ông già đi tới nói:
-Không phải đất của ta đâu! Gia đình có phúc lắm mới gặp tôi. Mua thẻ hương khấn rồi tôi tìm
mộ cho.
Ông già dẫn đến một chỗ có vết đào mương, hào. Có trồng một cây lạ để đánh dấu gọi là cây
chim chim.
Nghe kể chuyện này, đích thân em trai Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Võ Thuần Nho về tìm. Võ
Thuần Nho đứng một chập, có một ông lão ra hỏi:
-Có phải ông Nho đấy không?
-Thưa phải.
-Thời kháng chiến ông dạy tôi múa đại đao, ông có nhớ không?
-…
-Có một dạo, người trong làng ra đào hầm hố ngay đầu mộ, tôi ra tôi cản đó.
Lúc đó Võ Thuần Nho mới tin.
Ông thân sinh của Võ Nguyên Giáp và Võ Thuần Nho học tài thi phận. Ông đã nhiều lần thi
hương cho tới khoá Mậu Ngọ (1918). Hồi ấy, các thí sinh phải đem lều chõng vào trường thi,
dựng tại chỗ đất trống dành cho mình để có nơi ngồi làm bài. Khác với Võ Nguyên Giáp sau này
nhiều lần đỗ thủ khoa, ông Nghiêm lều chõng bao lần thi không đậu. Tuy không đỗ đạt nhưng
ông Nghiêm là một nhà nho học có uy tín trong vùng. Ông vừa dạy học, vừa bốc thuốc. Ông
được xóm làng tôn trọng. Khi tế ở ngoài đình, tuy không phải là tiên chỉ, nhưng người ta thường
mời ông làm chủ tế. Cậu bé Giáp mỗi lần thấy thầy tắm nước lá bưởi, mặc áo tế là biết ông đi
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
làm chủ tế.
Ông giàu lòng thương người. Đêm hôm, có ai mời đi thăm bệnh, ông cũng đi. Ông dạy con cháu
trong nhà “thương người như thể thương thân”. Ông sống một cuộc đời giản dị, thanh bạch, có
nền nếp. Sáng nào cũng vậy, ông dậy đúng giờ, ăn ba bát cháo hoa hay cháo tấm, ăn với cà
hoặc muối ông gọi đấy là “sâm nhà nghèo”. Tôi đi ngủ, ông bắt cả nhà xoa chân tay cho nóng.
Tập quán này, Võ Nguyên Giáp còn giữ mãi cho tới sau này.
Ông Nghiêm chú ý giữ gìn nền nếp gia phong. Sự giáo dụ trong gia đình rất nghiêm khắc. Ăn
cơm xong, con cái rót nước hầu cha mẹ phải bưng hai tay, bưng một tay là thất lễ. Có khách đến
nhà, con gái không được lên nhà trên. Ông dạy chữ nho cho trẻ trong làng. Đến một lúc nào đó,
ông chuyển sang dạy Quốc ngữ, làm hương sư. Ông vừa dạy học vừa làm ruộng. Giao bài cho
trẻ xong, ông chèo “nôốc” (thuyền) đi thăm ló (lúa).
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bắt đầu, gia đình đi tản cử, ông còn đang thu xếp
một vài việc chưa kịp đi theo, thì giặc Pháp ập tới. Chúng càn quét lùng bắt ông, đưa ông về
giam ở Huế. Ông bị tra tấn dã man. Có người trông thấy ông bị chúng buộc tay vào đằng sau xe
gíp (Jeep). Gia đình không biết ông sống chết ra sao.
Hơn bốn mươi năm sau, khi sưu tầm những tư liệu về gia đình, tôi tìm thấy một bức thư mà gia
đình còn lưu giữ được. Thư đã cũ, giấy học trò đã ngả màu vàng, nét chữ trẻ em to, nắn nót, viết
bằng mực tím:
Mẹ có mấy lời thăm con: Giáp và Hà.
Mẹ mong con cho được mạnh khoẻ luôn luôn thì Mẹ mừng lắm. Còn Mẹ và Anh cũng được
thường nhưng mà thua lúc ở nhà nhiều lắm, nhưng chuyện nhà nhiều chuyện đắng cay, của tiền
không kể, nhưng nhứt là không biết. Thầy có còn hay không thì Mẹ buồn lắm. Mẹ mong sao cho
gặp được hai con, cho đỡ buồn còn Anh có thường thường khi đâu trở trời có ho và mệt độ vài ba
hôm thì khoẻ ở mình.
Bức thư không đề ngày tháng, nhưng chắc chắn là viết vào thời gian đầu cuộc kháng chiến, gửi
từ nơi tản cư ở Quảng Bình ra Việt Bắc… Bà nội đọc cho cháu Hồng Anh (Hồng Anh: con gái
đầu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) viết.
Mãi về sau, gia đình mới có tin là ông đã mất trong nhà tù ở Huế. Sau ngày thống nhất nước
nhà, con cháu đi tìm mộ ông và năm 1979, bốc mọ, đưa hài cốt về chôn cất tại nghĩa trang liệt sĩ
huyện Lệ Thuỷ.
Võ Nguyên Giáp giống mẹ: Bà mẹ đã ban cho Võ Nguyên Giáp cả vóc người, gương mặt và đôi
mắt thông minh. Những ai đã có dịp gặp bà đều nhận ngay ra vóc người thấp đậm của Võ
Nguyên Giáp là vóc người của bà. Gương mặt tròn, trắng trẻo của Võ Nguyên Giáp là gương
mặt của bà. Đặc biệt là đôi mắt: Một đôi mắt vừa hồn nhiên nhân hậu như mắt trẻ thơ, vừa
cương nghị như có ánh thép và sắc sảo long lanh trí tuệ. Về đôi mắt của Võ Nguyên Giáp, sau
này có một lần, một nữ ký giả phương Tây-bà Oriana Fallaci-khi phỏng vấn Đại tướng Võ
Nguyên Giáp đã nhận xét: “Đôi mắt thông minh nhất mà tôi chưa từng thấy!”.
“Hiền lành là bà”-Võ Nguyên Giáp nói về người mẹ của mình như vậy. Cậu bé Giáp yêu thương
mẹ, còn đối với ông thân thì cậu kính nể và sợ. Ông dạy con rất nghiêm mà cậu thì hay nghịch.
Mỗi khi ông mắng còn thì bà đứng ra đỡ lời.
Bà lo việc ruộng vườn nội trợ. Thời gian đầu, bà còn đi chợ, ra ruộng. Sau này khi hai cô con gái
đã lớn (chị Điềm và chị Liên), các chị chèo đò đi buôn vặt để đỡ đần cho cha mẹ thì bà lo việc
cơm nước ở nhà. Khi hai chị đi lấy chồng và hai anh em Võ Nguyên Giáp, Võ Thuần Nho đi học
xa, hai ông bà sống với côn con gái út tên là Võ Thị Lài.
Năm 1952, bà ra Việt Bắc và sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thành công, bà về Hà Nội
sống với con cháu. Năm 1961, bà mất.
Khác với các gia đình ở Quảng Bình, trong gia đình ông Nghiêm, con cái gọi cha mẹ là thầy,
thím.
Tôi hỏi:
-Tại sao?
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
Anh Võ Thuần Nho trả lời:
-Cả huyện, cả làng gọi ông là thầy, trong nhà cũng gọi là thầy.
-Thế tại sao gọi mẹ là thím?
Chị Đặng Bích Hà đưa ra một giả thuyết:
-Phải chăng do anh Toại, chị Châu mất sớm, gia đình kiêng, gọi tránh đi cho dễ nuôi con.
Bà cụ đã kể lại cho chị Đặng Bích Hà: Người anh cả tên là Toại, thông minh khôi ngô cực kỳ.
Anh học chữ Hán, giỏi như thần đồng làm cho thầy mẹ hoảng sợ, bắt uống mực Tàu cho tối dạ
bớt đi. Nhưng cũng không giữ được anh. Một cơn dịch tả tràn qua làng, anh mắc bệnh. “Thầy ơi!
Cứu con với!”. Thầy biết làm thuốc nhưng bệnh nặng, không cứu được. Anh qua đời vào lúc lên
bảy lên tám. Sau anh Toại là chị Châu, sinh được một năm thì vừa trận lụt năm Thìn. Lũ lớn tràn
về đột ngột, ngập cái “tra” (gác để cất lúa). Nước cuốn trôi cả hai mẹ con. Tóc mẹ dài quấn vào
bụi tre, thầy cứu được. Chị Châu mất không có mộ. Sau này Võ Thuần Nho về đắp cho chị một
cái mộ gió bên cạnh mộ anh Toại.
Hai người chị trên Võ Nguyên Giáp là chị Điểm và chị Liên, lớn lên vừa làm ruộng vừa chạy chợ.
Không có vốn buôn bán, hai chị chỉ buôn ít cá, ít đường phèn, mua chợ nọ, bán chợ kia. Chị
Điểm cũng bị giặc Pháp bắt sau khi được tha, lên chiến khu thì mất ở đó. Chị Liên mất trước
năm 1930. Ông cụ cũng bốc thuốc chữa chạy nhưng chị Liên không qua khỏi. Sau khi chị Liên
mất, ông cụ bỏ nghề làm thuốc.
Thuở ấy, đàn bà con gái ít được học hành. Cả nhà dồn sức cho hai anh em Võ Nguyên Giáp và
Võ Thuần Nho ăn học nên người. Tuy nhiên có lúc nhà nghèo túng đến nỗi Võ Thuần Nho phải
bỏ học, đi làm nghề thợ may kiếm sống, đỡ đần cho cha mẹ. Võ Thuần Nho làm nghề may đã
đến trình độ được lễ tổ.
Võ Thuần Nho kể:
“Đèn hương xôi gà cúng xong, xâu kim một lần phải qua”. Lẽ ra Võ Thuần Nho tiếp tục làm thợ
may, nhưng hai lần Võ Nguyên Giáp gọi em vào Huế và ra Hà Nội để tiếp tục học cho đến tú tài.
Võ Thuần Nho sau này là Thứ trưởng Bộ Giáo dục.
Cô em út là Võ Thị Lài sau này là nhân viên coi kho của một cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp.
Gia đình ông Nghiêm không có ruộng tư, chỉ cày cấy số ruộng công do làng cấp. An Xá có chế
độ chia công điền từ xưa để lại. Ba năm chia lại một lần. Mỗi lần chia ruộng là mỗi lần tranh
giành nhau ghê gớm. Cả làng họp tại nhà ông thủ bạ, giết lợn, chè chén rồi “bắt” ruộng. Lượt đầu
được một mẫu (mẫu Trung bộ bằng nửa héc ta), lượt thứ hai được một mẫu, lượt thứ ba được
năm sào, chia theo tam đẳng điền và theo suất đinh.
Gia đình ông Nghiêm được chia hai mẫu rưỡi: Một mẫu đệ nhất đẳng, một mẫu đệ nhị đẳng,
năm sào đệ tam đẳng. Có lần được ruộng gần nhà, có lần phải ruộng xa nhà, gần phá Hạc Hải,
nước sâu.
Chia rồi, ai có vốn, có sức thì làm, không có thì, cầm, bán. Những gia đình giàu có thâu tóm hết
ruộng đất của bà con nghèo.
Gia đình ông Nghiêm bán một mẫu rưỡi loại đệ nhị, đệ tam đẳng để thuê người làm mẫu ruộng
đệ nhất đẳng.
Trong nhà phải đi vay mới đủ: Cầm đất cho ông Bá Lạng, vay nợ lãi của ông Khoá Uy. Khoá Uy
là một Hoa kiều giàu có ở trên chợ Hôm, có tiền cho cả huyện vay. Vay bằng tiền nhưng ghi nợ
bằng thóc, khi trả tính cả vốn lẫn lời. Ai không trả được thì bị Khoá Uy phái bọn lưu mạnh, bọn
nghiện hút đến đòi. Bọn họ ngồi chỗm trệ giữa phản hoặc leo lên nóc nhà, réo tên chủ nhà ra mà
chửi.
Cậu bé Giáp nhiều lần được theo cha đi thăm lúa. Cánh đồng hai huyện bát ngát “cò bay thẳng
cánh”. Vùng này có câu: “Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện” (là huyện Lệ Thuỷ và huyện Quảng
Ninh). Ruộng khô cấy lúa ven, gạo gie, ruộng sâu cấy giống su, gạo đỏ.
Ngày mùa có phường gặt về là niềm vui của lũ trẻ. Các chị dậy từ ba giờ sáng nấu cơm cho
phương gặt.
Niềm vui ngày mùa của cậu bé Giáp không trọn vẹn. Nhiều lần cậu theo mẹ chèo “nôốc” đi trả
nợ. Cậu nhớ nhất cái bến nhà ông Phó Sương trên Tuy Lộc có cây gạo to. Trời nắng. Mẹ đội
thóc chạy lên chạy xuống, còn cậu thì ngồi từ sáng đến trưa dưới “nôốc” để giữ thóc. Ông Phó
Sương dùng cái quạt Tàu to tướng, quạt mạnh cho bay hết hột lép, chỉ lấy hột chắc.
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
Những cuộc chia ruộng, những khái niệm vay, trả gắn liền với những ông Phó, ông Bá, ông
Khoá… đã gieo điều gì vào đầu óc cậu bé?
Hai mươi năm sau (năm 1937), Võ Nguyên Giáp viết trong cuốn Vấn đề dân cày (viết chung với
Trường Chinh dưới hai bút danh là Qua Ninh và Vân Đình): “Sống dưới chế độ bóc lột phòng
không-tư bản (exploitation féodo capitaliste) dân cày Đông Dương quá điêu linh xờ xạc…”.
Lần đầu tiên cậu bé Giáp nghe chuyện đánh Tây là câu chuyện Cần Vương do bà mẹ kể. Bà kể
rằng khi bà còn nhỏ, kinh đô Huế thất thủ. Điện tiền thượng tướng quân Tôn Thất Thuyết phò
vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Bình. Có tin đồn nhà vua ngự trên thượng đạo xa lắm. Vua xuống
chiếu Cần Vương, kêu gọi các sĩ phu và dân chúng chống giặc Pháp.
Ông ngoại theo Văn thân làm đến chức Đề đốc coi đại đội tiền vệ. Ông bị giặc Pháp bắt. Chúng
đánh đập, doạ bắn, nhưng ông một mực không khai, sau chúng phải thả.
Cậu bé Giáp được mẹ đưa về quê ngoại bên Mỹ Đức hầu thăm ông ngoại. Ông ngoại râu tóc
bạc phơ, phương phi quắc thước. Ông rất yêu cậu bé, ôm cậu vào lòng. Cậu bé chú ý vùng ấy
có cái đền Chiêm Thành, có Phật bằng vàng. Cậu bé thích chạy theo người cậu săn bắn rất giỏi.
Bắn giỏi là một truyền thống của gia đình bên ngoại.
Bà mẹ kể chuyện chạy giặc. Khi bà còn nhỏ, mỗi lần Tây về, bà và người dì ngồi trong thúng
người lớn quẩy đi tránh giặc. “Tây đi, lại về. Giặc Tây tàn ác lắm”-Bà nói.
Đêm nằm ngủ với thầy, cậu bé nghe ông thân kể chuyện chống Pháp qua một bài vè rất phổ cập
trong dân gian thời bấy giờ là bài vè Thất thủ kinh đô. Cả nhà khâm phục tấm gương trung quân
ái quốc của Tôn Thất Thuyết, ghét cay ghét đắng gian thần Nguyễn Văn Tường.
Bài vè Thất thủ kinh đô và câu chuyện Cần Vương có phải là tia sáng đầu tiên? Ấn tượng về một
vị tướng đánh giặc in sâu trong tâm trí cậu bé là ông thần thờ trong ngôi miếu cổ ở xóm ngoài.
Ông đi chống giặc, bị giặc chém đứt cổ, chỉ còn dính da, vẫn đàng hoàng cưỡi ngựa về đến làng.
Gặp một bà hái rau, ông hỏi:
-Rau muống bẻ ra có sống không?
Bà hái rau trả lời:
-Rau muống rỗng, bẻ ra không sống.
Ông ngã ra chết. Dân chúng lập miếu thờ. Nghe nói ông thiêng lắm, trẻ con đi qua miếu không
dám nghịch.
Quê hương
Quảng Bình nhìn trên bản đồ Việt Nam ở vào đoạn thắt đáy lưng ong của hình đất nước. Đó là
một dải đất hẹp, có dãy Trường Sơn vươn ra biển: Đó là Hoành Sơn. Con đường thiên lý xuyên
Việt ngoằn ngoèo trèo lên núi tạo nên Đèo Ngang, một thắng cảnh nổi tiếng. Từ xa xưa, nơi đây
đã in dấu chân của nhiều danh nhân đất nước. Tới Đèo Ngang ngắm cảnh trời non nước, chợt
nhớ tới mảnh tình riêng của Bà Huyện Thanh Quan:
… Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại, trời non nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Ngắm cửa biển Nhật Lệ, chợt nhớ tới nỗi buồn của Nguyễn Du:
Buồn trông cửa biển chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
Quảng Bình là một vùng đất lịch sử. Năm 1306, công chúa Huyền Trân ra đi làm dâu vương
quốc Chămpa, mở ra cho vùng biên trấn phía Nam nước Đại biệt hai châu Ô và Lý. “Quảng Bình
là đất Ô châu”. Trên đất Quảng Bình còn nhiều di tích văn hoá Chiêm Thành. Nhiều sự kiện lịch
sử của đất nước còn in đậm dấu trên vùng đất Quảng Bình.
Luỹ Thầy ai đắp mà cao,
Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu!
Câu ca dao lắng đọng nỗi đắng cay của hai thế kỷ đất nước bị chia cắt thành Đàng Trong và
Đàng ngoài dưới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, lấy sông Gianh làm ranh giới. Kể từ tháng 11-
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
1558, khi Nguyễn Hoàng xin vào làm trấn thủ Thuận Hoá để tránh bàn tay ám hại của người anh
rể là Trịnh Kiểm cho đến tháng 7-1786, khi nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của tiết chế
Nguyễn Huệ đánh chiếm Phú Xuân rồi tiến thẳng ra Thăng Long, đưa hai miền đất nước trở về
một mối, thì đằng đẵng hơn hai thế kỷ đất nước bị chia cắt.
Còn Luỹ Thầy thì ai đắp? Đó là quan nội tán Đào Duy Từ (1572-1634) được người đương thời
gọi bằng “Thầy”. Ông học rộng, tài cao nhưng không được đi thi chỉ vì cha là Đào Bá Hán làm
nghề hát xướng nên đã bỏ Lê-Trịnh trốn vào Nam theo chúa Nguyễn. Qua 4 thế kỷ, công trình
kiến trúc quân sự này bị bào mòn, nhưng trong dân gian còn lưu lại ấn tượng về sự hiểm yếu
của nó: “Nhứt sợ Luỹ Thầy, nhì sợ bãi lầy Võ Xá”.
Bước vào lịch sử hiện địa, nhiều vùng đất Quảng Bình là căn cứ chống Pháp của nghĩa quân
Cần Vương. Dân chúng còn lưu lại hình tượng của hai ông: Ông Văn và ông Võ ở hai khối đá
lớn trên hòn Lèn Bảng. Ông Văn là hoàng giáp Phạm Duy Đôn, ông Võ là đề đốc tiến sĩ Lê Trực,
chỉ huy nghĩa quân Cần Vương ở Bắc Quảng Bình năm 1885-1888.
Trong hai cuộc kháng chiến, nhiều tên đất, tên người đã làm sống động truyền thống đấu tranh
bất khuất của Quảng Bình: Xuân Bồ với anh hùng Lâm Uý; làng chiến đấu Cự Nẫm, làng biển
Cảnh Dương, làng đảo La Hà; động Phong Nha và đường 20 một điểm xuất phát của đường
mòn Hồ Chí Minh, thị xã Đồng Hới, động cát Bảo Ninh, dòng sông Nhật Lệ với bà mẹ Suốt và
những nữ anh hùng nổi tiếng thời chống Mỹ…
Tuổi thơ của Võ Nguyên Giáp gắn liền với làng quê An Xá bên dòng sông Kiến Giang.
Sông Kiến Giang bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, qua vùng núi An Mã, tưới cho đồng bằng hai
huyện, nhập vào phá Hạc Hải rồi đổ ra cửa Nhật Lệ. Hai bờ sông bên lở bên bồi.
An Xá nằm bên bồi. Bên lở gọi là “bơợc” thuộc xã khác. Con đường làng ven theo men sông,
thuở cậu Giáp còn nhỏ, cây cối ven đường làng rậm rạp như rừng. Có những cây nghiêng mình
rủ tóc xuống mặt nước gọi là “cừa” nom rất đẹp. Dưới bến, đậu san sát những chiếc thuyền gọi
là “nôốc”. Theo dân làng kể lại, một số viên đá tảng to kê làm bậc lên xuống ở bờ sông Kiến
Giang là đá lấy ở chân thành nhà Ngo (Ninh Viễn thành) một di tích của người Chiêm Thành, ở
cách phía Nam huyện lỵ Lệ Thuỷ một cây số.
Từ An Xá đi lên huyện lỵ phải ngược dòng sông Kiến Giang qua các làng trên: Tuy Lộc, Đại
Phong, Thượng Phong. Mẹ và các chị đi chợ huyện bằng đò dọc. Ngược dòng lên thượng nguồn
là nơi gia đình thường đi tảo mộ ở chân núi An Mã.
Xuôi dòng qua làng dưới là An Lạc, có nhà thờ đạo. Thuở ấy, trẻ con làng An Xá ghét trẻ con
làng đạo, thường xẩy ra đánh nhau.
Theo đò dọc xuôi về Đồng Hới, gặp một cái phá rộng: Phá Hạc Hải. Nước từ nguồn An Sinh,
Cẩm Ly đổ về, trăm dòng tụ lại, mặt phá rộng mênh mông như biển, lấp loá ánh nắng. Xung
quanh là động cát trắng phau, phía Tây… sừng sững một bức núi Đầu Mâu trầm mặc. Cậu bé
Giáp nhiều lần được theo thầy hoặc các chị đi đò dọc xuôi xuống Hạc Hải vớt rong đem về bón
khoai trồng trong vườn nhà. Rong Hạc Hải bón vào cây gì cũng tốt. Dân An Xá còn khai thác cói
ở phá Hạc Hải đem về dệt chiếu:
“Chiếu cói An Xá, nón lá Quy Hậu”.
An Xá đối với cậu bé Giáp là một cái làng đầy vườn mà vườn là thiên đường của trẻ nhỏ. An Xá
có ba xóm: Xóm trong, xóm giữa, xóm ngoài… Mái nhà tranh chìm trong vườn xum xuê cây trái.
Hai đầu làng có những “lòi” là những lùm cây rậm rạp, có những “hói” bí hiểm. Giữa xóm trong và
xóm giữa có một bãi hoang gọi là “đờng đờng”, có cây bún có nhiều ma.
Chỉ có vườn là thích. Vườn trước có cây mít to như cổ thụ và nhiều cây cam giấy. Vườn sau
trồng chuối, có cây ổi, cây bồ kết, cây đào tiên, hai cây khế ngọt, chim cu xanh thường về ăn. Mẹ
chăm sóc cây trái trong vườn, mùa nào thức nấy đem bán ở chợ Tréo, chợ Chè.
Nhưng vườn hàng xóm còn hấp dẫn hơn. Vườn nhà mụ Thơ có cây bưởi. Một trò nghịch của lũ
trẻ cùng học chữ Nho với cậu bé Giáp là nhân lúc thầy đi thăm lúa, bọn chúng rủ nhau chui qua
rào vào vườn nhà mụ Thơ hái trộm bưởi đem vè chén. Cái trò nghịch này, thầy mà biết thì chết
đòn. Thầy có tiếng là nghiêm, nhưng lũ trẻ nghịch vẫn hoàn nghịch.
Một trò nghịch táo bạo hơn là chui ra khỏi vườn sau, vượt qua mấy cái ruộng mạ (gọi là “trưa”) đi
tới cái “bộng” (ao) bên ruộng nước. Đường đi ra “bộng” có cây mưng lá ăn chát chát. Đứng ở
“bộng” nhìn ra xa, đồng ruộng bát ngát đến chân trời. “Bộng” là thiên đường của lũ trẻ, nơi chúng
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
bắt cá, được vài con cá là sung sướng vô cùng.
Đối với cậu bé Giáp, những giờ phút đùa nghịch với lũ bạn như vậy quả là thích thú, mặc dầu
cậu biết rằng về nhà thế nào cũng bị phạt, bị mắng và có khi còn bị roi vọt. Có một lần, ông
Nghiêm vớ lấy cây sào chống cửa, cậu bé phải chui xuống dưới bàn thờ, xin tha.
Nói chuyện cây sào chống cửa vì cửa nhà ông Nghiêm ghép bằng lá kè, dùng sào chống lên, tối
sập lại.
Đây là một căn nhà ba gian hai chái lợp tranh, có nhà ngang làm bếp. Gian phải phía Đông là
buồng của đàn bà con gái, có kê một cái rương của bà mẹ. Gian giữa đặt bàn thờ gia tiên, có bộ
phản gỗ và bộ trường kỷ bằng tre. Gian trái kê giường nằm của thầy, có một cái tủ từ xưa để lại.
Chái phía Tây là nơi trẻ học và thầy coi sách.
Trong nhà trang trí giản dị: Nơi thầy đọc sách có treo đôi câu đối bằng vải tây điều. Trước bàn
thờ dán những thiếp đỏ “Cung chúc tân niên” có bút tích người đề tặng.
Một hôm thầy bảo:
-Mấy cái thiếp này phải cất đi. Những người này can Văn thân đang bị truy nã.
Trước nhà có cái sân đất gọi là “cươi” khá rộng, đến mùa xuân lấy đất ruộng về rải trồng rau cải.
Ngăn sân với vườn có một cái bình phong gạch. Trước bình phong là bể cạn cây si, bồn hoa cây
cảnh do ông Nghiêm tự tay chăm chút: Mẫu đơn, thạch lựu, vạn thọ, hoa trang, hoa huệ. Có một
cây mai vàng, một cây sám trồng làm thuốc đắng ghê gớm.
Mỗi khi trời nắng, cây trong vườn in bóng xuống sân, rung rinh đưa đi đưa lại. Không gian đầy
tiếng chim hót, dăm ba con bướm lượn ngoài vườn.
Những năm tháng học tập
Cậu Giáp học chữ Nho với thầy. Cậu cùng với em trai và năm sáu đứa bạn ngồi ê a trên chiếc
chiếu.
Ông Nghiêm tuy nghiêm khắc nhưng rất thương con. Nghiêm khắc giữ gìn gia phong theo khuôn
phép đạo Khổng. Thương con, thương mấy đứa trẻ thông minh đĩnh ngộ.
Dạy cho anh em Giáp và lũ trẻ trong làng học chữ Nho, ông bảo:
-Đây là chữ của thánh hiền, các con không được nghịch, không được giẫm lên sách, phải đội lên
đầu để tỏ lòng tôn kính.
Ông dạy theo Tam tự kinh và Ấu học tân thư. Bộ sách Ấu học tân thư xuất bản dưới thời vua
Duy Tân, gồm nhiều quyển.
Ấn tượng ban đầu in sâu mãi mãi. Đến tuổi tám mươi, Võ Nguyên Giáp vẫn còn nhớ. Một hôm,
ông đọc cho chúng tôi nghe:
Thiên thượng địa hạ
Nhật trú nguyệt dạ…
(Trên trời dưới đất
Mặt trời ban ngày, mặt trăng ban đêm)
Trong Ấu học tân thư có đoạn nói về đất nước:
Ngô tổ Hồng Bàng thị
Triệu Thuỷ, Kinh Dương Vương
Tích Kinh Bắc thuộc thì
Cựu sỉ dĩ nan vong
(Tổ ta là Hồng Bàng
Triệu Thuỷ, Kinh Dương Vương
Sự tích thời Bắc thuộc
Mối nhục cũ khó quên)
Có chỗ nói:
Phong tuy độc bất thích đồng quần
Hổ tuy bạo bất thực đồng loại
(Ong tuy độc không đốt trong đàn
Hổ tuy ác không ăn đồng loại)
Đoạn nói về chiến công xưa, có câu “Chi Lăng tẩu Tống binh”, Võ Nguyên Giáp nói:
-Tẩu nghĩa là chạy, nhưng đây nghĩa là đuổi, chữ có nghĩa rất mạnh.
HD240406027
Allrights reseved by Rosea
http://danghoanghai.999.org
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOKS: https://booktruyen.com
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
Chi Lăng tẩu Tống binh
Bạch Đằng phá Nguyên sư
(Chi lăng đuổi quân Tống
Bạch Đằng phá Nguyên sư)
Mấy cuốn sau nói về Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Riêng đoạn về Tây Sơn và Quang Trung thì bị nói xấu
mà đề cao Nguyễn Ánh.
Ấu học tân thư là cuốn vỡ lòng có ảnh hưởng đối với cậu bé và cũng là vốn chữ hán đầu tiên của
Võ Nguyên Giáp.
Học lớp Đồng ấu, cậu bé phải đi học ở trường Tổng trên Tuy Lộc. Tuy Lộc là làng trên, lớn hơn
làng An Xá, có chợ gọi là chợ Hôm, có ty rượu của chủ Tây gọi là Sica. Ngày lễ, Tết Tây, học
sinh phải sang hát cho Tây nghe. Thầy dạy học tên là Khoát, học trò không trọng vì thầy nịnh
Tây.
Cậu Giáp học giỏi. Sáng đi chiều về cùng với thằng Hoằng, trưa ở lại, mỗi đứa được một tiền để
mua bánh ở chợ. Có khi bới đi một mo cơm, trong đó có con tôm. Thằng Hoằng lớn tuổi hơn
nhưng là cháu, gọi cậu Giáp bằng chú. Học lớp ba, cậu bé phải đi trọ học trên trường huyện.
Phải đi đò dọc lên huyện lỵ Lệ Thuỷ. Đã nhiều lần, cậu bé được các chị cho đi theo lên huyện
xem xinê. Chợ huyện đông vui, phố huyện sầm uất. Và đi đò dọc quả thật là thích.
Nhưng lần này… Lần này đi đò dọc với mẹ, cậu bé không vui, lòng cậu nặng trĩu. Cậu biết rằng
mẹ đi chợ huyện xong là mẹ về, còn cậu thì phải ở lại một mình nhà ông gì đó để trọ học. Xa mẹ.
Điều đó, cậu bé không chịu nổi!
Đò đã đi qua mũi Viết, gần tới huyện rồi. Khi lên phố huyện, mẹ dẫn cậu bé đến nhà trọ, dỗ dành:
-Con ở lại đây, thím về. Hôm sau, thím đón.
-Không! Không! Không!
Cậu oà lên khóc. Cậu túm áo mẹ, cậu chạy theo mẹ xuống đò. Cậu giẫm chân, ôm lấy mẹ. Mẹ
đành phải cho cậu về theo. Nhưng khi về đến đầu nhà thì cậu bé len lét sợ, chùn lại. Cậu lảng
vảng ở ngoài vườn, chờ mẹ vào thưa trước với thầy. Không biết mẹ nói gì, không thấy thầy rầy
la mà gọi vào. Hôm sau, cậu bé thuận đi và ở lại trọ học. Học lớp ba trên trường huyện, cậu bé
luôn luôn đứng đầu lớp.
Xong lớp ba, phải lên trường tỉnh học. Đồng Hới, tỉnh lỵ của Quảng Bình là một thị xã xinh xắn
bên bờ sông Nhật Lệ. Bao quanh thị xã là một toà thành cổ xây dựng từ năm Gia Long thứ 10
(1812) đến năm Minh Mạng thứ 5 (1824) thì được xây dựng lại bằng gạch. Các mặt thành có cửa
cuốn thông ra ngoài bằng những cây cầu gạch. Bốn phía thành có hào sâu đầy nước. Đối diện
với thành cổ Đồng Hới, bên kia sông là những động cát trắng phau nhấp nhô, những làng chài in
hình trên một cảnh biển, trời, mây, nước. Đứng bên động cát nhìn lại thì toàn cảnh Đồng Hới
hiện ra hùng vĩ lạ thường: Núi Đầu mâu, núi Ba Rền dường như nhích lại gần toà thành cổ, cùng
soi bóng xuống dòng sông Nhật Lệ lung linh dáng núi, mây trời. Đã bao lần cậu bé đứng sững sờ
ngắm cảnh đẹp lộng lẫy của quê hương.
Cậu ở trọ tại nhà ông Ký Xiển, một người quen của gia đình. Ông Ký Xiển nghiện thuốc phiện,
người gầy đét gối chiếc gối xếp nằm dài bên bàn đèn, trên sập gụ. Ông có vẻ khó tính nhưng
thực ra rất tốt. Ông coi cậu bé như con cháu trong nhà, không lấy tiền trọ, còn tiền thì đến mùa,
mẹ hoặc chị chèo đò chở thóc lên trả tiền ăn cả năm cho cậu.
Đốc học trường tỉnh là thầy Phạm Phú Lượng, thầy giáo dạy học là thầy Đào Duy Anh, hai thầy
được học trò kính mến.
Cậu G...
 





